Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) qua trợ lý ảo Hemminki tại Thị trấn Kolari, Vùng Lapland, Phần Lan và kinh nghiệm cho Việt Nam
Thực hiện Quyết định số 66-QĐ/BCĐ ngày 25/9/2026 của Ban Chỉ đạo các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nước ngoài (Ban Tổ chức Trung ương), Đoàn cán bộ gồm 19 thành viên từ 10 ban, bộ, ngành và 9 địa phương do đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng Đoàn đã tham dự Khóa bồi dưỡng do Trường SYKLI (Phần Lan) tổ chức về chủ đề “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực thực thi số trong Kỷ nguyên 4.0” từ ngày 26/10/2026 đến ngày 06/11/2026.
Trong khuôn khổ Khóa bồi dưỡng, Đoàn đã được nghiên cứu, trải nghiệm tại Rovaniemi – thủ phủ Vùng Lapland, một trong 19 vùng của Phần Lan, nơi phần lớn lãnh thổ nằm phía trên Vòng Bắc Cực; được Thống đốc Vùng Lapland và Trường Đại học Khoa học ứng dụng Lapland chia sẻ kinh nghiệm và thực tiễn liên quan đến chủ đề của Khóa bồi dưỡng. Đoàn đặc biệt ấn tượng với Sáng kiến Arkiäly–Tekoäly – sáng kiến kết hợp giữa kiến thức đời thường, trải nghiệm sống của người dân và AI, với trọng tâm là chatbot Hemminki, một trợ lý ảo đóng vai trò “hướng dẫn viên kỹ thuật số” của Thị trấn Kolari, một thị trấn xa xôi ở Tây Bắc Vùng Lapland.
Dự án Arkiäly–Tekoäly do Thị trấn Kolari và Trường Đại học Khoa học ứng dụng Lapland triển khai. Chatbot Hemminki hiện được thí điểm trên trang web “Kylien Kolari” (Kolari của các làng) với hình tượng người bạn làng, người dẫn đường và người kể chuyện của Kolari, giúp người dân và du khách tra cứu thông tin về các làng, sự kiện, dịch vụ, lịch sử, truyền thống và “tri thức đời thường” của địa phương. Đến nay, Dự án này đươc đánh giá có ba thành công.
Thứ nhất, dữ liệu tùy chỉnh không ngừng tiến hóa: các mô hình AI nói chung thường thất bại khi được hỏi về các truyền thống nông thôn cụ thể, các nhân vật lịch sử ít người biết đến hoặc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tại địa phương. Hemminki đã giải quyết bài toán này bằng cách xây dựng các tập dữ liệu do chính cộng đồng đóng góp: các câu chuyện truyền miệng, tài liệu lưu trữ lịch sử và lịch trình sự kiện… của Thị trấn đã được chuyển đổi thành văn bản mà máy tính có thể đọc được, qua đó bảo đảm AI hoạt động như một cơ chế bảo tồn thực sự cho bản sắc khu vực.
Thứ hai, tối ưu hóa cho giới hạn hạ tầng nông thôn: Dự án đã thử nghiệm các ranh giới mạng; mạng cáp quang địa phương sẵn có cung cấp nền tảng tốc độ cao ổn định cho việc nạp dữ liệu và cập nhật mô hình, trong khi mạng di động ở vùng sâu, vùng xa có thể bị nghẽn khi nhiều người dùng cùng truy cập giao diện. Các kỹ sư đã tối ưu hóa giao diện để ưu tiên các truy vấn văn bản nhẹ, giảm thiểu lượng dữ liệu truyền qua kết nối di động.
Thứ ba, nâng cao hiểu biết về AI cho người dân bản địa và gắn kết xã hội: thông qua các buổi hướng dẫn trực tiếp tại thư viện địa phương, các khóa học và các đêm làng, dự án đã biến AI từ một khái niệm trừu tượng thành một công cụ thiết thực cho cuộc sống hàng ngày, củng cố gắn kết xã hội và gia tăng sức hút của địa phương trên nhiều phương diện.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú tặng quà lưu niệm cho bà Riikka Wikstrom, Giám đốc Dự án
Thành công của dự án cho thấy công nghệ không “hiểu” về địa phương – chỉ có con người bản địa mới hiểu. AI chỉ thực sự hữu ích khi được kết hợp với kiến thức đời thường của con người: kiến thức địa phương nằm trong con người; kiến thức đời thường giúp kiến thức địa phương trở nên hữu hình và AI giúp đưa những kiến thức đó vào sử dụng vì lợi ích của người dân và các ngôi làng vùng sâu, vùng xa. Dự án không đòi hỏi công nghệ quá tiên tiến hay ngân sách lớn, mà cần kiến thức địa phương, thời gian và sự quan tâm của con người, hướng tới tăng cường sự tham gia, sức hút và khả năng giữ chân người dân ở lại làng quê, qua đó góp phần phát triển kinh tế – xã hội.
Việt Nam có nhiều xã vùng sâu, vùng xa. Các cộng đồng này sở hữu kho tàng lịch sử truyền miệng, tiếng địa phương và truyền thống văn hóa, giá trị độc đáo nhưng cơ bản vắng bóng trong các tập dữ liệu huấn luyện AI. Gần đây, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 (hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia trước đây).
Một trong những nội dung trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) gắn với chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường. Tuy nhiên, Chương trình OCOP nhìn chung vẫn thiếu một ứng dụng AI như mô hình Hemminki. Nếu có một “Trợ lý ảo OCOP” cung cấp thông tin về sản phẩm gắn với truyền thống, văn hóa bản địa; giúp người mua tra cứu nguồn gốc sản phẩm, quy trình canh tác truyền thống; kết nối giao thương trực tiếp giữa hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ, người sản xuất với người tiêu dùng trong và ngoài nước thì Chương trình OCOP còn có thể phát triển hơn. Trợ lý ảo AI như vậy còn có thể trở thành một kênh kết nối giữa chính quyền, người dân, doanh nghiệp và khách tham quan, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và quảng bá hình ảnh địa phương…

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú tặng quà cho Thống đốc Hannu Takkula
Từ kinh nghiệm Dự án Arkiäly–Tekoäly, để hiện thực hóa ý tưởng này có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: thí điểm tại một số địa phương có sản phẩm OCOP đặc trưng; số hóa câu chuyện làng nghề, tài liệu lịch sử, phương ngữ địa phương thành bộ dữ liệu cộng đồng; tổ chức các buổi hướng dẫn sử dụng AI tại thư viện, nhà văn hóa xã; tận dụng hạ tầng số sẵn có và ưu tiên giao diện truy vấn văn bản nhẹ phù hợp với điều kiện vùng sâu, vùng xa…

Việc nghiên cứu, áp dụng tương tự Dự án Arkiäly–Tekoäly cần được thúc đẩy trong tổng thể triển khai Nghị quyết số 46/2026/QH16, gắn với chương trình chuyển đổi số quốc gia và Chương trình OCOP, bảo đảm các cộng đồng nông thôn, miền núi phát triển bền vững và không bị bỏ lại phía sau trong thời đại AI.



