Ưu tiên dung tích hồ để cắt lũ, siết vận hành an toàn đập trong mùa mưa
Các hồ chứa ưu tiên dung tích hữu ích để cắt, giảm lũ cho hạ du trong mùa mưa và khi có dự báo mưa lớn, trong bối cảnh chỉ khoảng 30% hồ hiện có phương án ứng phó khẩn cấp và hệ thống cảnh báo còn nhiều hạn chế.

Mưa lũ miền Trung gây thiệt hại hơn 3.000 tỉ đồng. Ảnh: T.Đào
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, có hiệu lực từ ngày 15-5-2026, theo TTXVN.
Nghị quyết này quy định về một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước và vùng hạ du trong trường hợp mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; mưa, lũ gây ngập lụt ở hạ du hồ chứa trên diện rộng có nguy cơ gây thiệt hại lớn về người, tài sản và các công trình cơ sở hạ tầng; động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế trên lưu vực hồ chứa nước hoặc tác động khác gây mất an toàn cho đập trong tình huống khẩn cấp.
Nguyên tắc vận hành hồ chứa phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước, phòng thủ dân sự, phòng, chống thiên tai và pháp luật có liên quan. Ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để thực hiện nhiệm vụ cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ chứa, đơn hồ trong mùa mưa lũ và trong tình huống dự báo có thể xảy ra mưa lũ lớn, đặc biệt lớn trên lưu vực.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, các lưu vực sông khác do Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm.
Chỉ 30% hồ thủy lợi có phương án ứng phó khẩn cấp
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, cả nước hiện có khoảng 7.315 đập, hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 15 tỉ m³, tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp và cung cấp khoảng 1,5 tỉ m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp cũng như ngành kinh tế khác.
Tuy nhiên, hiện mới có 30% số hồ chứa có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp, 51% số hồ có phương án bảo vệ, 9% số hồ được kiểm định an toàn đập, 31% số hồ có quy trình vận hành, 19% số hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng và chỉ 11% số hồ cắm mốc phạm vi bảo vệ.
Về cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa thủy lợi, hầu hết các hồ chứa thủy lợi được lưu trữ trên hệ thống, nhưng chỉ có khoảng 900 hồ chứa có thông số kỹ thuật tương đối đầy đủ, các hồ chứa còn lại thiếu nhiều thông tin (chỉ có tên hồ, dung tích và vị trí); chưa có các thông số kỹ thuật của 592 đập dâng.
Hệ thống cảnh báo còn hạn chế, nhiều hồ vẫn chủ yếu thông báo thủ công qua điện thoại hoặc công văn, gây chậm trễ và thiếu tính cập nhật trong điều kiện mưa lũ diễn biến nhanh.
Tổng hợp kết quả thực hiện đến trước mùa mưa, lũ năm 2025 cho thấy mức độ đáp ứng dữ liệu cho ứng dụng công nghệ còn rất hạn chế. Chỉ 19% số hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng; 9% số hồ được kiểm định an toàn đập; 30% số hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp; cả nước mới có 411 hồ chứa có bản đồ ngập lụt hạ du trong khi đây là dữ liệu quan trọng cho hệ thống cảnh báo sớm.











