Vai trò của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng, tạo tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự chuẩn bị công phu, bền bỉ của Đảng và nhân dân ta trong suốt 15 năm, trong đó, dấu ấn lớn nhất thuộc về Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Sự kiện quan trọng nhất đánh dấu bước ngoặt chiến lược là việc Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) tại Pác Bó, Cao Bằng. Từ hội nghị này, Người không chỉ đề ra chủ trương chuyển hướng chiến lược giải phóng dân tộc, mà còn trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng-tạo tiền đề quan trọng cả về thế và lực cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Hơn 85 năm trước, ngày 28/1/1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về nước qua cột mốc 108, Pác Bó (xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Người đã chọn Pác Bó làm nơi ở và hoạt động cách mạng. Ảnh: Hồng Xiêm

Hơn 85 năm trước, ngày 28/1/1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về nước qua cột mốc 108, Pác Bó (xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Người đã chọn Pác Bó làm nơi ở và hoạt động cách mạng. Ảnh: Hồng Xiêm

Quá trình chuẩn bị lý luận về căn cứ địa cách mạng

Trước khi về nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có một quá trình dài chuẩn bị về mặt lý luận và khảo nghiệm thực tiễn về mô hình căn cứ địa. Tư duy về xây dựng căn cứ địa cách mạng đã được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hình thành từ sớm, đặc biệt qua những trải nghiệm trong cao trào cách mạng những năm 1924-1927 tại Trung Quốc. Năm 1928, Người viết tác phẩm “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân”, tổng kết những thành tựu và thất bại của các cuộc khởi nghĩa trên thế giới để rút ra giá trị tư tưởng về việc xây dựng căn cứ địa. Người khẳng định: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực”[1].

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một căn cứ địa cách mạng muốn tồn tại phải hội đủ các điều kiện về địa lý, quân sự, kinh tế và chính trị. Người chỉ rõ: “Đất đứng chân của các đội du kích là nơi phải có địa thế hiểm yếu để che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ”[2]. Trong đó, yếu tố chính trị “lòng dân” là quan trọng nhất. Người nhấn mạnh: “Chỗ đứng chân phải vững chắc. Vững chắc nhất là lòng dân”[3]. Một căn cứ địa lý tưởng phải có địa hình hiểm trở để áp dụng lối đánh du kích, có khả năng tự cung tự cấp về kinh tế để đối phó với sự bao vây của địch và phải có cơ sở quần chúng vững mạnh[4].

Tháng 10/1940, từ Vân Nam (Trung Quốc), sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, Người đã đưa ra nhận định thiên tài: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta”[5]. Người phân tích rằng, Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, kề sát biên giới, rất thuận lợi cho việc liên lạc quốc tế. Đồng thời, Người vạch ra lộ trình: Từ Cao Bằng phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống miền xuôi để tiếp xúc với toàn quốc; khi thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ[6].

Xác định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, tháng 12/1940, tại Tĩnh Tây (Trung Quốc), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày cho khoảng 40 cán bộ, đảng viên người Cao Bằng. Người trực tiếp giảng dạy về chương trình cứu nước, phương pháp vận động quần chúng và tổ chức Mặt trận Việt Minh. Tài liệu giảng dạy mang tên “Con đường giải phóng” gồm các bài về tình hình thế giới, Đông Dương, vấn đề khởi nghĩa và tư cách người cách mạng. Những học viên như Lê Quảng Ba, Bằng Giang, Hoàng Văn Thái... sau đó được đưa về nước làm nòng cốt xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc.

Hang Cốc Pó là nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc sau khi trở về nước lãnh đạo cách mạng. Ảnh: Hồng Xiêm

Hang Cốc Pó là nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc sau khi trở về nước lãnh đạo cách mạng. Ảnh: Hồng Xiêm

Củng cố và mở rộng căn cứ địa cách mạng

Tháng 5/1941, với tư cách phái viên Quốc tế Cộng sản, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại lán Khuổi Nậm, Pác Bó. Dưới sự chủ trì của Người, Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”. Quyết sách này nhằm tập hợp mọi lực lượng không phân biệt giai cấp, tôn giáo vào mục tiêu cao nhất là đánh đuổi Pháp-Nhật. Người nhấn mạnh: “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng... thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Hội nghị xác định khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm. Để chuẩn bị, Hội nghị quyết định xây dựng các căn cứ địa cách mạng, trọng tâm là vùng rừng núi Việt Bắc, bắt đầu từ Cao Bằng và Bắc Sơn-Võ Nhai. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo rằng, việc xây dựng căn cứ địa phải đi đôi với việc phát triển các đội tự vệ, du kích để bảo vệ cơ quan lãnh đạo. Sau Hội nghị, Người ở lại Pác Bó để hiện thực hóa các quyết sách. Tháng 11/1941, theo chỉ thị của Người, Đội du kích Pác Bó được thành lập gồm 12 người do Lê Quảng Ba làm đội trưởng. Đến cuối năm 1944, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), đội quân chủ lực đầu tiên ra đời, tạo bước ngoặt mới cho sự lớn mạnh của căn cứ địa.

Dưới sự chỉ đạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, con đường “Nam tiến” được vạch ra từ tháng 2/1943 nhằm nối liền căn cứ Cao Bằng với Bắc Sơn-Võ Nhai và thông xuống miền xuôi. Đến tháng 6/1945, tại Tân Trào (Tuyên Quang), theo quyết định của Người, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên (nay là tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên). Đây trở thành “Thủ đô gió ngàn”, là bàn đạp trực tiếp lãnh đạo toàn dân bước vào cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Có thể thấy, sau hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trải bao thăng trầm, cay đắng, tủi cực, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mang về trong hành trang của mình cho dân tộc hai “vật báu”, sản phẩm có giá trị làm thay đổi dòng chảy của lịch sử đất nước là Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trì thành công Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 với những quyết sách quan trọng, nhân tố nền tảng có tính chất quyết định trực tiếp đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Dưới sự dẫn dắt của Người, toàn dân tộc đã chớp thời cơ “ngàn năm có một” để “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, tạo nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Nguyễn Hà Hải

-----------------------------------------------

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 564.

[2] Nguyễn Anh Dũng, Những điều kiện và những công tác để xây dựng căn cứ địa trong Cách mạng Tháng Tám, Tạp chí Lịch sử quân sự, 9/1986, trang 31.

[3] Phạm Xanh, Hồ Chí Minh với việc xây dựng căn cứ địa cách mạng-Từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí Lịch sử quân sự, 1/2011, trang 12.

[4] Nguyễn Anh Dũng, Những điều kiện và những công tác để xây dựng căn cứ địa trong Cách mạng Tháng Tám, Tạp chí Lịch sử quân sự, 9/1986, trang 31-33.

[5] Dương Đình Lập, Căn cứ địa Cao Bằng trong Cách mạng Tháng Tám, Tạp chí Lịch sử quân sự, 3/1995, trang 6.

[6] Đồng Khắc Thọ, Sự kiện Bác Hồ về nước xây dựng căn cứ địa cách mạng Xuân 1941-Qua hồi ức một số nhân chứng, Tạp chí Lịch sử quân sự, 2/2016, trang 71.

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/vai-tro-cua-lanh-tu-nguyen-ai-quoc-voi-qua-trinh-xay-dung-can-cu-dia-cach-mang-tao-tien-de-cho-cuoc-tong-khoi-nghia-gianh-chinh-quyen-nam-1945-post503510.html