Văn hóa, con người: Nền tảng và động lực phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, văn hóa và con người luôn là cội nguồn làm nên sức sống bền bỉ, bản lĩnh và khát vọng phát triển của Việt Nam. Bước vào giai đoạn phát triển mới, cùng với yêu cầu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, có thu nhập cao, tư duy của Đảng về văn hóa tiếp tục được bổ sung, phát triển với nhiều nhận thức mang tính đột phá. Văn hóa và con người không chỉ được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nền tảng phát triển, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng, sức mạnh mềm và hệ điều tiết bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững. Từ nhận thức đó, các chủ trương của Đảng đang từng bước được thể chế hóa thành chính sách, tạo nền tảng để khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Những trải nghiệm văn hóa đặc trưng của các vùng, miền không chỉ làm phong phú sản phẩm du lịch mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của du lịch văn hóa.
Nhận thức mới về văn hóa, con người trong chiến lược phát triển đất nước
Lịch sử phát triển của mỗi dân tộc đều cho thấy một quy luật: sự hưng thịnh không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực kinh tế hay sức mạnh quân sự, mà còn bởi nền tảng văn hóa và chất lượng con người. Đối với Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chính những giá trị văn hóa được kết tinh qua nhiều thế hệ đã hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, ý chí độc lập, tự cường và khát vọng vươn lên, tạo thành sức mạnh nội sinh giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách của lịch sử.
Nếu lãnh thổ làm nên hình hài của một quốc gia thì văn hóa tạo nên bản sắc, cốt cách và sức sống của dân tộc. Bởi vậy, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đến các nghị quyết chuyên đề của Đảng qua từng thời kỳ, nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho tư duy phát triển văn hóa của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi." Đó không chỉ là lời hiệu triệu đối với giới trí thức, văn nghệ sĩ mà còn là tư tưởng xuyên suốt về vị trí của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng. Theo Người, văn hóa không tồn tại tách rời kinh tế, chính trị hay xã hội mà phải thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới và tạo động lực cho sự phát triển của đất nước.
Tinh thần ấy được Đảng kế thừa và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII từng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, coi đây là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước.
Đến Đại hội XIV và đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tư duy ấy được nâng lên một tầm cao mới. Văn hóa không chỉ được nhìn nhận ở phương diện đời sống tinh thần mà được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, văn hóa trở thành một trụ cột của phát triển; đồng thời được xác định là nền tảng phát triển, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng, sức mạnh mềm và hệ điều tiết bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Đây không đơn thuần là sự thay đổi trong cách diễn đạt mà phản ánh bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa thì nay yêu cầu đặt ra là chuyển hóa những giá trị ấy thành nguồn lực trực tiếp phục vụ phát triển. Văn hóa không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình tạo dựng chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm của Việt Nam trong Hội nhập quốc tế.
Nhận thức mới đó xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế của thời đại. Trong nền kinh tế tri thức và kỷ nguyên số, lợi thế của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào chất lượng con người, trình độ sáng tạo, bản sắc văn hóa và khả năng tạo dựng niềm tin, uy tín trên trường quốc tế. Nhiều quốc gia đã coi văn hóa là nguồn lực chiến lược để phát triển công nghiệp sáng tạo, xây dựng thương hiệu quốc gia và mở rộng ảnh hưởng thông qua sức mạnh mềm. Đối với Việt Nam, đây vừa là yêu cầu khách quan, vừa là lợi thế khi đất nước sở hữu nền văn hóa lâu đời, giàu bản sắc cùng kho tàng di sản phong phú được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử.
Điểm đáng chú ý là những quan điểm mới của Đảng không dừng lại ở định hướng lý luận mà đang được cụ thể hóa bằng những quyết sách quan trọng của Chính phủ. Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026-2030 đã xác định rõ mục tiêu đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển, trụ cột và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Lần đầu tiên, một hoạt động văn hóa thường niên được thiết kế không chỉ nhằm tôn vinh các giá trị truyền thống mà còn tạo cơ chế để huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc sáng tạo, bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.
Tiếp đó, Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam tiếp tục khẳng định quyết tâm đưa các chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống. Điều đáng chú ý là các hệ giá trị không được nhìn nhận như những khẩu hiệu mang tính tuyên truyền, mà trở thành nền tảng để xây dựng thể chế, hoàn thiện chính sách và lồng ghép trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức sang hành động, từ định hướng sang tổ chức thực hiện, tạo điều kiện để văn hóa thực sự hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Có thể thấy, lần đầu tiên trong tiến trình phát triển đất nước, một hệ thống chủ trương, nghị quyết và chính sách được hình thành tương đối đồng bộ nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa. Điều đó cho thấy văn hóa không còn là lĩnh vực "đi sau" để phục vụ phát triển, mà đang được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Đây chính là tiền đề quan trọng để khơi dậy sức mạnh nội sinh, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh và hạnh phúc trong những thập niên tới.
Bồi đắp hệ giá trị Việt Nam - Cội nguồn của sức mạnh nội sinh

Các di tích lịch sử cách mạng không chỉ lưu giữ ký ức dân tộc mà còn góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp bản lĩnh, lòng yêu nước và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Một quốc gia có thể sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, nền kinh tế phát triển hay trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến, nhưng nếu thiếu một hệ giá trị chung để định hướng tư duy và hành động thì rất khó tạo nên sức mạnh bền vững. Lịch sử thế giới cho thấy, phía sau sự phát triển của mỗi quốc gia đều là một nền tảng giá trị được xã hội thừa nhận và gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chính hệ giá trị ấy tạo nên bản sắc, củng cố niềm tin xã hội, điều chỉnh hành vi và trở thành "sợi chỉ đỏ" kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hiện đại, cá nhân với cộng đồng.
Đối với Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành một kho tàng giá trị đặc sắc như lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, ý chí độc lập, tự cường, nhân ái, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo và khát vọng vươn lên. Những giá trị ấy không chỉ giúp dân tộc vượt qua chiến tranh, thiên tai và nhiều biến cố lịch sử mà còn trở thành nguồn lực tinh thần to lớn trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức chưa từng có. Quá trình toàn cầu hóa, chuyển đổi số, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo và các nền tảng truyền thông số mở ra không gian sáng tạo rộng lớn nhưng cũng kéo theo sự giao thoa, cạnh tranh gay gắt giữa các hệ giá trị. Những biểu hiện thực dụng, lối sống hưởng thụ, thông tin sai lệch, sản phẩm văn hóa độc hại hay sự xuống cấp về đạo đức ở một bộ phận xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố "sức đề kháng" văn hóa của quốc gia.
Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược: xây dựng đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây không chỉ là sự kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc mà còn là sự lựa chọn những giá trị cốt lõi phù hợp với yêu cầu phát triển trong thời đại mới.
Nếu ví sự phát triển của đất nước như một công trình lớn thì hệ giá trị quốc gia chính là mục tiêu định hướng; hệ giá trị văn hóa là nền móng tinh thần; hệ giá trị gia đình là nơi hình thành nhân cách; còn chuẩn mực con người Việt Nam là hình mẫu để mỗi cá nhân phấn đấu và hoàn thiện. Bốn hệ giá trị ấy không tồn tại độc lập mà gắn bó hữu cơ, tác động qua lại, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Điểm mới quan trọng là tư duy ấy đã nhanh chóng được cụ thể hóa bằng Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Không dừng ở việc xác định nội hàm các hệ giá trị, Kế hoạch hướng tới xây dựng một cơ chế triển khai thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, gắn việc bồi đắp các giá trị với quá trình hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách và phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là bước phát triển rất đáng chú ý trong tư duy quản trị quốc gia. Lần đầu tiên, các hệ giá trị được yêu cầu lồng ghép vào chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực và địa phương; đồng thời trở thành căn cứ để xây dựng chuẩn mực ứng xử, môi trường văn hóa và đánh giá tác động của chính sách. Điều đó cho thấy văn hóa không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực riêng của ngành văn hóa mà trở thành tiêu chí xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước.
Theo Quyết định số 1189/QĐ-TTg, hệ giá trị quốc gia gồm các giá trị cốt lõi: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Đây là sự kết tinh giữa mục tiêu phát triển của đất nước với khát vọng của dân tộc, phản ánh con đường phát triển mà Việt Nam kiên định lựa chọn.
Trên nền tảng đó, hệ giá trị văn hóa Việt Nam được xác định với các giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, vừa kế thừa truyền thống, vừa tiếp thu tinh hoa của thời đại. Hệ giá trị gia đình hướng tới ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh, khẳng định gia đình tiếp tục là tế bào của xã hội, là môi trường đầu tiên hình thành nhân cách con người. Đặc biệt, chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới được xác định bằng tám phẩm chất cốt lõi: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đây không chỉ là những phẩm chất đạo đức cần có mà còn là những năng lực thiết yếu của công dân trong xã hội hiện đại.
Điều quan trọng hơn cả là các hệ giá trị ấy không được xây dựng để tồn tại trên giấy. Quyết định số 1189/QĐ-TTg yêu cầu đưa các giá trị vào thực tiễn thông qua giáo dục, truyền thông, hoạt động văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa cơ sở, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông số và các nền tảng công nghệ; đồng thời lồng ghép trong quá trình xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách và triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Đây là cách tiếp cận toàn diện, bảo đảm các giá trị văn hóa không chỉ được tuyên truyền mà được hiện thực hóa bằng cơ chế và hành động cụ thể.
Đáng chú ý, Kế hoạch cũng đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành và lan tỏa các giá trị; vừa là mục tiêu cuối cùng của phát triển. Gia đình là nơi nuôi dưỡng những giá trị đầu tiên; nhà trường bồi dưỡng tri thức và nhân cách; cộng đồng tạo môi trường thực hành; còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế để các giá trị ấy được phát huy. Đây chính là mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, lấy văn hóa làm nền tảng và lấy khát vọng cống hiến làm động lực.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng hệ giá trị vì thế không phải là nhiệm vụ trước mắt mà là chiến lược lâu dài. Một dân tộc chỉ có thể phát triển bền vững khi mỗi con người biết sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; khi những giá trị tốt đẹp trở thành chuẩn mực ứng xử trong đời sống xã hội; khi văn hóa thực sự thấm sâu vào mọi quyết sách phát triển. Đó cũng chính là con đường để khơi dậy sức mạnh nội sinh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng, tạo sinh kế bền vững cho người dân là một trong những hướng đi quan trọng để chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển. Ảnh Việt Ánh
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên thiên nhiên hay quy mô dân số. Ngày càng rõ hơn, sức mạnh của một quốc gia được đo bằng chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ khoa học - công nghệ và khả năng tạo dựng sức hấp dẫn từ bản sắc văn hóa. Văn hóa vì thế không chỉ là "phần hồn" của dân tộc mà đã trở thành một nguồn lực phát triển có giá trị chiến lược.
Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã thành công trong việc biến văn hóa thành động lực tăng trưởng kinh tế và công cụ gia tăng ảnh hưởng quốc tế. Điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thiết kế sáng tạo, thời trang, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa hay các nền tảng nội dung số không chỉ tạo ra giá trị kinh tế lớn mà còn góp phần định hình hình ảnh quốc gia, lan tỏa ngôn ngữ, lối sống và các giá trị văn hóa đến cộng đồng quốc tế. Đó chính là biểu hiện sinh động của sức mạnh mềm trong thời đại mới.
Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra một cách tiếp cận mới khi xác định phát triển văn hóa không chỉ nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn phải chuyển hóa những giá trị ấy thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng, đưa văn hóa từ vị trí hỗ trợ sang tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển đất nước.
Việt Nam có lợi thế đặc biệt với nền văn hóa lâu đời, đa dạng và giàu bản sắc. Hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa, hàng nghìn lễ hội truyền thống, hàng trăm di sản văn hóa phi vật thể cùng nhiều di sản được UNESCO ghi danh không chỉ là ký ức của dân tộc mà còn là những "tài sản" có giá trị to lớn nếu được khai thác bằng tư duy phát triển hiện đại. Giá trị của di sản không chỉ nằm ở việc gìn giữ nguyên trạng mà còn ở khả năng tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, những không gian sáng tạo mới và những giá trị kinh tế mới trên nền tảng bảo tồn.
Đó cũng là tinh thần được thể hiện rõ trong Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 19/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026-2030. Điểm nổi bật của Kế hoạch là không xem đây đơn thuần là một ngày kỷ niệm hay một chuỗi sự kiện mang tính phong trào, mà là một chương trình hành động lâu dài nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa.
Kế hoạch xác định rõ mục tiêu đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực mạnh mẽ, trụ cột và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Quan điểm ấy phản ánh sự thống nhất giữa nhận thức lý luận và hành động thực tiễn, đồng thời khẳng định phát triển văn hóa là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân, chứ không chỉ của riêng ngành văn hóa.
Điểm đáng chú ý là Kế hoạch gắn chặt bảo tồn với phát triển. Các giá trị di sản văn hóa, làng nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian, sản phẩm thủ công mỹ nghệ và tri thức bản địa được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ bảo tồn mà còn là nguồn lực để phát triển du lịch, dịch vụ, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Khi một làng nghề tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, một lễ hội truyền thống trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn hay một di sản được kể bằng ngôn ngữ số để tiếp cận công chúng toàn cầu, giá trị văn hóa đã được chuyển hóa thành giá trị phát triển.
Cùng với đó, chuyển đổi số đang mở ra những không gian phát triển hoàn toàn mới cho văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng bảo tàng số, thư viện số, cơ sở dữ liệu di sản, không gian triển lãm trực tuyến và các nền tảng văn hóa số không chỉ góp phần bảo tồn hiệu quả hơn mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận văn hóa cho người dân ở mọi vùng miền và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Công nghệ số cũng tạo điều kiện để các sản phẩm văn hóa Việt Nam vượt qua giới hạn về không gian địa lý, tiếp cận thị trường toàn cầu với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn.
Đặc biệt, công nghiệp văn hóa đang trở thành một lĩnh vực giàu tiềm năng. Điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, quảng cáo, xuất bản, trò chơi điện tử, nội dung số và nghệ thuật biểu diễn không chỉ tạo việc làm cho hàng triệu lao động mà còn hình thành chuỗi giá trị mới dựa trên tri thức, sự sáng tạo và bản sắc văn hóa. Trong nền kinh tế số, giá trị lớn nhất không nằm ở nguyên liệu mà ở ý tưởng sáng tạo. Đây cũng là lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều điều kiện để bứt phá nếu biết kết hợp hài hòa giữa truyền thống và công nghệ.
Quan trọng hơn, phát triển văn hóa còn là quá trình xây dựng sức mạnh mềm quốc gia. Một bộ phim chạm tới trái tim khán giả quốc tế, một chương trình nghệ thuật mang đậm bản sắc Việt Nam, một sản phẩm thiết kế lấy cảm hứng từ di sản dân tộc hay một chiến dịch quảng bá văn hóa trên nền tảng số đều có thể góp phần nâng cao hình ảnh đất nước, củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế và mở rộng không gian hợp tác về kinh tế, đầu tư, du lịch và giáo dục. Trong thời đại hội nhập sâu rộng, sức mạnh mềm ngày càng trở thành một thành tố quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Tuy nhiên, chuyển hóa văn hóa thành nguồn lực phát triển không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Mỗi sản phẩm, mỗi chính sách và mỗi hoạt động khai thác văn hóa đều phải đặt trên nền tảng bảo tồn bản sắc, tôn trọng các giá trị lịch sử và bảo đảm lợi ích của cộng đồng - chủ thể sáng tạo và gìn giữ văn hóa. Chỉ khi bảo tồn và phát triển song hành, truyền thống và hiện đại bổ sung cho nhau, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực bền vững.
Có thể khẳng định, phát triển văn hóa trong giai đoạn mới không chỉ là gìn giữ những giá trị của quá khứ mà còn là sáng tạo những giá trị cho tương lai. Đó là quá trình biến tài nguyên văn hóa thành tài sản phát triển; biến bản sắc dân tộc thành lợi thế cạnh tranh; biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh kinh tế, sức mạnh sáng tạo và sức mạnh mềm của quốc gia. Đây cũng chính là con đường để văn hóa đồng hành cùng đất nước trên hành trình phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng với thế giới.











