Văn hóa dân gian - 'mỏ vàng' cho phát triển công nghiệp văn hóa
Văn hóa dân gian không chỉ là ký ức cần bảo tồn, mà còn là nguồn tài nguyên để phát triển công nghiệp văn hóa trong thời đại mới.

Lễ rước kiệu với màn kiệu xoay độc đáo tại Lễ hội Hoa Lư 2026. Ảnh: Đức Phương/TTXVN
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhìn nhận văn hóa là “sức mạnh mềm” của quốc gia và là động lực trực tiếp của phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, tinh thần của nghị quyết đã mở ra một cách tiếp cận mới: nhìn nhận di sản, trong đó có văn hóa dân gian, không chỉ là ký ức cần bảo tồn, mà còn là nguồn tài nguyên để phát triển công nghiệp văn hóa trong thời đại mới.
“Mỏ vàng” của công nghiệp văn hóa
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, trong suốt quá trình lịch sử dân tộc và cho đến tận ngay nay, văn hóa dân gian luôn chiếm một vị trí căn bản và quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam.
Suốt một thời gian dài cho đến khi Cách mạng Tháng 8 thành công, hơn 90% người Việt mù chữ, nên văn hóa dân gian chiếm vị trí cơ bản trong đời sống của người Việt cũng như các dân tộc thiểu số sinh sống trên dải đất Việt Nam. Văn hóa dân gian được truyền miệng và thông qua những thực hành hàng ngày của người dân bằng hình thức cầm tay chỉ việc, được người ta ghi nhớ trong đầu. Những phong tục tập quán, những câu ca dao, truyện kể, truyền thuyết, giai thoại, nghi lễ, lễ hội, tế lễ, cúng bái… được lặp đi lặp lại và ăn sâu vào tâm trí mỗi con người. Người dân không biết chữ, không học lịch sử, song những câu chuyện về vua Hùng Vương, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, An Dương Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo... đã đi vào tâm thức nhân dân qua lời kể, qua hội làng, qua các nghi lễ cộng đồng và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác… Những giá trị của văn hóa dân gian đã bồi đắp nên tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cho dân tộc Việt Nam, tạo nên nền tảng để hình thành bản sắc Việt Nam hiện nay.
Cùng với hơn 8.000 lễ hội văn hóa, tín ngưỡng trên khắp mọi miền đất nước, các làng nghề, ẩm thực truyền thống, Việt Nam còn có số lượng lớn di sản nghệ thuật dân gian của 54 dân tộc Việt Nam. Các trò diễn dân gian như: cướp phết, trò tứ dân, đánh trận, cờ người, đánh bệt... các trình diễn nghệ thuật như múa Ải Lao, múa Rắn, múa con đĩ đánh bồng, hát Bả Trạo, hát Giặm Nghệ Tĩnh, hát Quan họ, hát Xoan, hát Soọng Cô, hát Chèo Tàu, chèo, tuồng, cải lương, các điệu dân ca, dân vũ…; các nghi lễ cúng thần đất, thần lúa, thần rừng, làm Then, nghi lễ xuống đồng, lễ ăn trâu, cúng bến nước, mừng cơm mới… dần dần trở thành các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc, là nền tảng bền vững của đời sống văn hóa dân tộc.
Các chuyên gia văn hóa nhận định, kho tàng phong phú của văn hóa dân gian Việt Nam chính là lượng “tài nguyên” khổng lồ, được ví như “mỏ vàng” để chúng ta khai thác và phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, điều quan trọng là khai thác như thế nào để vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa giữ được bản sắc và chiều sâu văn hóa.

PGS.TS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Lý cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam chưa phát triển được các thương hiệu mạnh về công nghiệp văn hóa như Hollywood của Hoa Kỳ hay làn sóng K-pop của Hàn Quốc, thì văn hóa dân gian chính là nguồn lực quan trọng để tạo nên bản sắc và sức cạnh tranh riêng cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Lợi thế lớn nhất của Việt Nam nằm ở sự đa dạng văn hóa của 54 dân tộc anh em. Đây là “kho tư liệu sống” vô cùng phong phú mà ít quốc gia có được. Chính sự đa dạng ấy tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho âm nhạc, điện ảnh, du lịch, trình diễn nghệ thuật, lễ hội và các sản phẩm sáng tạo đương đại.
Thực tế cho thấy, nhiều nghệ sĩ trẻ thành công hiện nay đều biết khai thác chất liệu dân gian trong sáng tạo nghệ thuật và đã mang lại những thành công lớn. Có thể kể đến như nghệ sĩ Hòa Minzy với ca khúc và MV Bắc Bling; Quán quân âm nhạc Đức Phúc tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision Song Contest năm 2025 với ca khúc “Phù Đổng Thiên Vương” với sự kết hợp âm nhạc dân gian và rap; nghệ sĩ Soobin Hoàng Sơn với tác phẩm “Mục hạ vô nhân”… những tác phẩm nghệ thuật khai thác yếu tố văn hóa dân gian này vừa mang lại sức hấp dẫn cho sản phẩm sáng tạo, vừa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.
Thành công của các nghệ sĩ trẻ thời gian gần đây khi kết hợp âm nhạc dân gian với nhạc điện tử, rap hay sân khấu hiện đại cho thấy sức sống mới của chất liệu truyền thống trong công nghiệp giải trí, cũng như tiềm năng vô hạn của mảng nghệ thuật dân gian đối với sự phát triển công nghiệp văn hóa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong nghệ thuật đương đại.
Động lực để phát triển bền vững
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, văn hóa dân gian ở Việt Nam đang được xem là “trữ lượng tài nguyên” khổng lồ cho phát triển công nghiệp văn hóa. Những yếu tố truyền thống khi được làm mới bằng tư duy hiện đại đã tạo nên sức hút mạnh mẽ với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Điều đó chứng minh văn hóa dân gian không phải là “di sản nằm yên”, mà có thể trở thành động lực kinh tế nếu được đầu tư đúng hướng. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên đó như thế nào để vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa giữ được bản sắc và chiều sâu văn hóa cũng là những trăn trở đang được cộng đồng quan tâm.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã nhìn nhận rất rõ điều đó khi khẳng định: văn hóa phải thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; các giá trị văn hóa phải trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây không chỉ là một quan điểm lý luận mà còn là định hướng chiến lược để Việt Nam phát triển trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Bởi trong thời đại hôm nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế hay công nghệ, mà còn ở khả năng tạo dựng sức hấp dẫn văn hóa. Quốc gia nào biết khai thác tài nguyên văn hóa hiệu quả, quốc gia đó sẽ tạo ra lợi thế bền vững.
Một trong những điểm quan trọng của Nghị quyết 80 là yêu cầu nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa… Điều đó cho thấy văn hóa dân gian đang được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển thực sự. Nếu trước đây, di sản chủ yếu được nhìn ở góc độ bảo tồn thì nay, di sản còn phải trở thành tài nguyên sáng tạo, nguồn nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa.

Đức Phúc biểu diễn ca khúc Phù Đổng Thiên Vương tại Cuộc thi Âm nhạc Quốc tế Intervision 2025. Ảnh: Trần Hải/PV TTXVN tại Nga
Thực tế cho thấy, trong các ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam xác định phát triển, rất nhiều lĩnh vực gắn trực tiếp với văn hóa dân gian như du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thời trang, thiết kế, điện ảnh, quảng cáo, ẩm thực… Theo đó, mỗi loại hình văn hóa dân gian đều có thể trở thành chất liệu để tạo ra sản phẩm văn hóa mới. Nguồn truyện kể dân gian phong phú có thể trở thành chất liệu cho điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, sân khấu, truyền thông số. Những huyền tích về Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Chử Đồng Tử hay kho tàng sử thi Tây Nguyên… hoàn toàn có thể trở thành các câu chuyện văn hóa hấp dẫn, như cách nhiều quốc gia đã thành công với thần thoại và truyền thuyết dân gian của họ.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, muốn đưa văn hóa dân gian đi xa thì phải biết kết hợp với công nghệ và tư duy sáng tạo hiện đại. Ngoài ra, chúng ta cũng cần chủ động đưa văn hóa ra thế giới thông qua phim ảnh, các chương trình biểu diễn và sản phẩm du lịch sáng tạo. Hiện nay, việc nhiều doanh nghiệp khai thác giá trị văn hóa bản địa trong phát triển du lịch tại Phú Quốc, Tây Ninh hay Sa Pa… đã cho thấy, khi được “nâng tầm” bằng cách kể chuyện mới, công nghệ mới và hình thức thể hiện mới, văn hóa dân gian hoàn toàn có thể trở thành sức mạnh mềm và nguồn lực phát triển bền vững.
Nhiều chuyên gia văn hóa đánh giá Nghị quyết 80 như một một động lực, một “liều thuốc bổ” cho sự tăng trưởng của văn hóa dân gian đối với việc phát triển kinh tế văn hóa của quốc gia. Câu chuyện phát huy văn hóa dân gian không chỉ dừng ở việc “giữ gìn”, còn là “đánh thức” những giá trị truyền thống để đưa vào đời sống hiện đại, tạo nên những sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh, có giá trị kinh tế và có khả năng lan tỏa hình ảnh Việt Nam ra thế giới.











