Văn hóa dân gian trong kỷ nguyên số: Giữ mạch nguồn, khơi sáng tạo
Mở rộng không gian lưu trữ và lan tỏa giá trị di sản đến cộng đồng, công nghệ số đang trao “chìa khóa” cho thế hệ trẻ tìm hiểu, sáng tạo và đánh thức tiềm năng từ các giá trị văn hóa dân gian.
Mở cánh cửa số cho văn hóa dân gian
Trải qua hàng nghìn năm bồi đắp, văn hóa dân gian Việt Nam đã trở thành một kho tàng vô giá, gắn với đời sống của 54 dân tộc và hiện diện trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Nhưng khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, không ít giá trị đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền. Vì thế, số hóa đang trở thành một yêu cầu thiết thực trong bảo tồn và phát huy di sản.
Theo nhà nghiên cứu Kiều Trung Sơn, Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, việc số hóa di sản văn hóa dân gian đã được nhiều đơn vị nỗ lực triển khai, chẳng hạn về âm nhạc dân gian, Viện Âm nhạc từ lâu đã có dự án chuyển đổi những tư liệu âm thanh, tư liệu hình để lưu giữ. Song, để các tư liệu ấy trở thành nguồn chất liệu có thể tiếp tục được phát huy, khai thác trong sáng tạo sản phẩm văn hóa hiện đại, cần thêm thời gian, cùng sự đầu tư bài bản. Đây cũng là cách giúp công chúng và giới âm nhạc hiểu sâu hơn về di sản.

Không gian số tạo điều kiện thuận lợi lưu giữ, lan tỏa văn hóa dân gian. Ảnh: Ng. Phương
Đáng chú ý, số hóa không đồng nghĩa với việc “đóng khung” di sản. Văn hóa dân gian luôn chuyển động, đa dạng. Cùng một phong tục, loại hình nghệ thuật, có thể tồn tại nhiều phiên bản ở những vùng đất và các thế hệ khác nhau. Một bản ghi chỉ phản ánh một thời điểm, một không gian và một cách thực hành cụ thể. Bởi vậy, bảo tồn phải đi cùng nhận diện sự biến đổi; lưu giữ song song với khả năng tiếp tục thực hành.
Không gian số đang tạo thuận lợi chưa từng có cho quá trình lưu giữ, lan tỏa văn hóa dân gian. Nhà nghiên cứu Kiều Trung Sơn cho rằng, những video ghi lại sinh hoạt đời thường, lễ hội, nghi lễ hay âm nhạc dân gian có thể vượt khỏi phạm vi một làng, một bản để đến với đông đảo công chúng hiện nay. Thông qua các nền tảng số, người xem có thể biết đến nhiều nghi lễ, tập quán, âm nhạc độc đáo của nhiều cộng đồng, dân tộc khác nhau. Từ đó, sự hiểu biết giữa các cộng đồng được mở rộng. Những giá trị từng được thực hành và lưu truyền trong phạm vi một cộng đồng có thể trở thành nguồn tư liệu cho nghiên cứu và sáng tạo.
Đối với giới nghiên cứu, nguồn tư liệu số ngày càng phong phú ấy có giá trị đặc biệt. Một video được ghi lại ở nhiều vùng khác nhau có thể giúp nhận diện những biến thể của cùng một thực hành văn hóa. Công chúng vì thế vừa là người tiếp nhận, vừa có thể góp phần tạo lập nguồn tư liệu mới. Nhưng lợi thế ấy chỉ phát huy khi đi cùng năng lực kiểm chứng, phân loại, xác lập ngữ cảnh và chú giải tư liệu. Nếu thiếu nền tảng nghiên cứu, không gian mạng cũng có thể trở thành nơi các giá trị bị giản lược, tách khỏi bối cảnh hoặc diễn giải sai lệch.
Đưa chất liệu truyền thống vào sáng tạo đương đại
GS. TS. Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia nhìn nhận, trong thời đại số, văn nghệ dân gian chắc chắn có thêm nhiều cơ hội được gìn giữ, phát huy, đồng thời cũng phải vận động theo xu hướng đó. Khi nước ta chú trọng phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản và kinh tế sáng tạo, nguồn lực từ văn hóa dân gian thực sự là một kho báu tiềm năng, là không gian rộng mở để người trẻ thỏa sức sáng tạo.

Nhiều giá trị văn hóa dân gian được đưa vào sáng tạo đương đại. Ảnh: TH
Nếu số hóa tạo thêm khả năng lưu giữ và lan tỏa, sáng tạo là con đường để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống. Những năm gần đây, chất liệu dân gian ngày càng xuất hiện trong các sản phẩm nghệ thuật đương đại. Đáng chú ý là sự chủ động của nhiều nghệ sĩ trẻ khi tìm đến xẩm, chèo, ca trù, quan họ, dân ca và các chất liệu truyền thống để làm mới ngôn ngữ sáng tác, trình diễn. Khi người trẻ xây dựng nội dung, sản phẩm sáng tạo từ chất liệu dân gian, họ đồng thời có thể tạo ra lợi ích kinh tế và thêm cơ hội để các giá trị truyền thống tham gia vào đời sống đương đại.
Theo quan sát của PGS. TS. Đặng Mai Anh, nguyên Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, nhiều nghề thủ công truyền thống chứa đựng giá trị thẩm mỹ, kỹ thuật chế tác độc đáo và tay nghề khéo léo của người thợ Việt, đang được khai thác trong sáng tạo mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng đương đại. Có thể kể đến các nghề gốm, sơn mài, mây tre đan, đục chạm, tò he, làm nón...
Điều đáng chú ý là công nghệ số không chỉ được sử dụng để quảng bá sản phẩm. Trong quá trình sáng tạo, các nghệ nhân, doanh nghiệp tại nhiều làng nghề ứng dụng công nghệ số để lưu giữ hoa văn, kỹ thuật, những giá trị truyền thống được cha ông trao truyền. Khi được số hóa một cách bài bản, những tư liệu ấy vừa góp phần bảo tồn di sản, vừa trở thành nguồn chất liệu phục vụ sáng tạo, đồng thời hỗ trợ nghệ nhân và doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm thủ công mỹ nghệ...
Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cũng xác định số hóa là một trong những giải pháp quan trọng để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian. GS. TS. Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cho biết, trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, Hội tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu số đồng bộ, bảo mật về văn hóa dân gian của 54 dân tộc; chuyển đổi các kho tư liệu quý hiếm, băng đĩa ghi âm, ghi hình của nghệ nhân sang định dạng kỹ thuật số chất lượng cao; đồng thời đưa văn hóa truyền thống lên các nền tảng số, mạng xã hội để tiếp cận công chúng, đặc biệt là giới trẻ.
Mở rộng khả năng đối thoại với thời đại chính là con đường để văn hóa dân gian từ ký ức cộng đồng trở thành nguồn lực văn hóa của hiện tại và tương lai. Như nhà nghiên cứu Kiều Trung Sơn kỳ vọng, khi người trẻ hiểu hơn, yêu hơn và chủ động sáng tạo từ những giá trị văn hóa của dân tộc, đó cũng là lúc truyền thống tìm được đời sống mới.
