Văn hóa, hồn cốt của thành phố mang tên Bác

Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới mở ra một tầm nhìn lớn cho đô thị đặc biệt này: Không chỉ trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, điểm đến hàng đầu châu Á và đô thị toàn cầu trong tương lai, mà còn phải phát triển toàn diện văn hóa và con người văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng với thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu.

Có thể nói, Nghị quyết 09 không chỉ là một nghị quyết về phát triển đô thị, phát triển kinh tế hay tổ chức lại không gian tăng trưởng cho TP.HCM. Sâu xa hơn, đây là một nghị quyết về tầm vóc, bản sắc và sứ mệnh của thành phố trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Bởi một thành phố muốn trở thành đô thị toàn cầu không thể chỉ lớn lên bằng những tòa nhà cao tầng, những trung tâm tài chính, những tuyến giao thông hiện đại hay những dòng vốn đầu tư quốc tế. Một đô thị toàn cầu đúng nghĩa phải có linh hồn văn hóa, có bản sắc riêng, có con người sáng tạo, có đời sống nhân văn và có khả năng làm cho mọi cư dân cảm thấy mình thuộc về thành phố ấy.

TP.HCM là một không gian văn hóa đặc biệt của Việt Nam. Thành phố ấy không chỉ là nơi hội tụ kinh tế, thương mại, dịch vụ, khoa học - công nghệ, mà còn là nơi gặp gỡ của nhiều lớp ký ức, nhiều vùng văn hóa, nhiều cộng đồng cư dân, nhiều khát vọng lập nghiệp từ khắp mọi miền đất nước.

Ở đó có lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng; có Bến Nhà Rồng; có Dinh Độc Lập, địa đạo Củ Chi, Chợ Lớn, sông Sài Gòn, Cần Giờ; có những khu chợ, con hẻm, bến cảng, dòng kênh, phố xá, không gian ẩm thực và nhịp sống đô thị phương Nam rất riêng. Tất cả làm nên một TP.HCM không chỉ năng động, hiện đại, mà còn giàu ký ức, nghĩa tình và sức sống văn hóa.

Chính vì vậy, yêu cầu phát triển toàn diện văn hóa và con người TP.HCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình trong Nghị quyết 09 cần được nhìn nhận như một trụ cột của phát triển, chứ không phải một nội dung bổ trợ. Văn hóa ở đây không chỉ là lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, bảo tồn di tích hay tổ chức sự kiện.

Văn hóa phải được hiểu rộng hơn, đó là cách thành phố quy hoạch không gian sống; cách chính quyền phục vụ người dân; cách doanh nghiệp ứng xử với xã hội; cách người dân tham gia giao thông, bảo vệ môi trường, ứng xử nơi công cộng; cách thành phố chăm lo cho trẻ em, người già, người yếu thế, người nhập cư; cách mỗi cộng đồng dân cư giữ gìn ký ức, nếp sống và tình làng nghĩa xóm trong một đô thị đang đổi thay từng ngày.

Một TP.HCM văn minh trước hết phải là thành phố của con người. Người dân không chỉ cần nhà ở, việc làm, thu nhập, mà còn cần công viên, thư viện, bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo, sân chơi trẻ em, thiết chế văn hóa cơ sở, không gian sinh hoạt cộng đồng.

Khi một khu đô thị mới được xây lên, câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu căn hộ, bao nhiêu mét vuông thương mại, mà còn là người dân ở đó sẽ gặp nhau ở đâu, trẻ em sẽ chơi ở đâu, người cao tuổi sẽ sinh hoạt ở đâu, cộng đồng sẽ kết nối với nhau như thế nào. Một đô thị hiện đại không thể thiếu những không gian nuôi dưỡng tâm hồn.

Một thành phố hiện đại cũng phải là thành phố biết dùng khoa học - công nghệ để phục vụ văn hóa và con người. Đặc biệt, TP.HCM có đủ điều kiện để trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa hàng đầu cả nước và khu vực. Với dân số trẻ, thị trường lớn, tinh thần cởi mở, cộng đồng nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo, trường đại học, viện nghiên cứu, lực lượng truyền thông và công nghệ mạnh mẽ, thành phố có thể phát triển mạnh điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thời trang, thiết kế, quảng cáo, mỹ thuật, ẩm thực, trò chơi điện tử, nội dung số, du lịch văn hóa và kinh tế đêm. Đây không chỉ là lĩnh vực làm phong phú đời sống tinh thần, mà còn là ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, tạo việc làm cho người trẻ, nâng cao sức cạnh tranh đô thị và đưa hình ảnh thành phố ra thế giới.

Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa chỉ phát triển khi thành phố biết nuôi dưỡng hệ sinh thái sáng tạo. Người sáng tạo cần không gian để thử nghiệm; doanh nghiệp văn hóa cần cơ chế để đầu tư; nghệ sĩ cần môi trường để cống hiến; di sản cần được đánh thức bằng những cách tiếp cận mới; các khu vực ven sông, nhà máy cũ, công trình cũ, khu phố lịch sử cần được tái sinh thành không gian văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo, du lịch. Một thành phố có bản sắc không phải là thành phố đóng băng quá khứ, mà là thành phố biết làm cho quá khứ tiếp tục sống trong hiện tại và truyền cảm hứng cho tương lai.

Trong hành trình ấy, hai chữ “nghĩa tình” có ý nghĩa đặc biệt. TP.HCM hấp dẫn không chỉ vì cơ hội làm ăn, không chỉ vì nhịp sống sôi động, mà còn vì sự bao dung, hào sảng, rộng mở của con người nơi đây. Bao thế hệ người nhập cư đã đến thành phố với hai bàn tay trắng, rồi tìm được cơ hội, tìm được chỗ đứng, tìm được tình người. Nghĩa tình ấy là một dạng “sức mạnh mềm” rất riêng của thành phố. Trong quá trình vươn lên thành đô thị toàn cầu, thành phố càng cần giữ gìn phẩm chất ấy như một căn cước văn hóa không thể thay thế.

Từ góc nhìn chính sách, điều quan trọng là phải thể chế hóa văn hóa trong mọi quyết sách phát triển. Quy hoạch 100 năm của thành phố cần có tầm nhìn văn hóa. Luật Đô thị đặc biệt cần có không gian cho sáng tạo, bảo tồn di sản, phát triển thiết chế văn hóa, công nghiệp văn hóa và bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa của người dân. Các dự án hạ tầng lớn cần được đánh giá không chỉ bằng hiệu quả giao thông hay kinh tế, mà còn bằng tác động đến cảnh quan, cộng đồng, di sản và chất lượng sống. Các chính sách an sinh cần thấm đẫm tinh thần nhân văn, để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển…

Nghị quyết 09 đã mở ra một chân trời mới cho TP.HCM. Chân trời ấy sẽ thật sự bền vững khi văn hóa trở thành nền tảng, con người trở thành trung tâm, sáng tạo trở thành động lực, nghĩa tình trở thành bản sắc và văn minh trở thành chuẩn mực sống hằng ngày.

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/van-hoa-hon-cot-cua-thanh-pho-mang-ten-bac-232054.html