Văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí: Quy định của pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 đã mở rộng phạm vi tiết kiệm, chống lãng phí đến nhiều đối tượng, luật hóa các hành vi gây lãng phí, quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí…

Hà Nội tiên phong thực hành tiết kiệm, siết chặt chống lãng phí, chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, từ rà soát đến xử lý tài sản công. Ảnh Phạm Hùng
Mở rộng phạm vi tiết kiệm, chống lãng phí đến nhiều đối tượng
Ngày 10-12-2025, Quốc hội ban hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Ngày 1-7, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 266/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Luật và Nghị định này đều có hiệu lực từ ngày 1-7.
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 quy định về tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực Nhà nước; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên, năng lượng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Luật này đưa ra khái niệm về: Tiết kiệm, lãng phí; hành vi gây lãng phí; khu vực Nhà nước; người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí. Trong đó:
Tiết kiệm là việc quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra. Trong khu vực Nhà nước, tiết kiệm là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực Nhà nước, tài nguyên, năng lượng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt kết quả cao hơn mục tiêu đã định.
Lãng phí là việc quản lý, khai thác, sử dụng tài chính công, tài sản công, tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực Nhà nước, tài nguyên, năng lượng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc việc quản lý, sử dụng không hiệu quả, không đạt được mục tiêu đã định hoặc là việc thực hiện các hành vi gây lãng phí quy định tại Luật này tạo rào cản phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước.
Hành vi gây lãng phí là hành vi do các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của Luật này thực hiện, làm phát sinh lãng phí và được quy định cụ thể tại Điều 4 của Luật này.
Người đấu tranh chống lãng phí là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi gây lãng phí của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến các lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định tại Luật này.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội đánh giá, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 có nhiều nội dung mới đáng chú ý như: Luật đã mở rộng phạm vi tiết kiệm, chống lãng phí đến các đối tượng nêu tại Điều 2 của Luật này; bổ sung nội dung giải thích cụ thể một số từ ngữ trong Luật, đáng chú ý, Luật giải thích cụ thể về khái niệm người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí; luật hóa các hành vi gây lãng phí; quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí; quy định rõ ràng về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc tiếp nhận, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh cho biết, thay vì quy định chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước, vốn Nhà nước, tài sản Nhà nước, lao động, thời gian lao động thì nay, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 đã bổ sung đối tượng áp dụng theo hướng đầy đủ, cụ thể hơn gồm: Tổ chức chính trị, cơ quan Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân; đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp nhà nước; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực Nhà nước; doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có liên quan.
Luật hóa các hành vi gây lãng phí
Hành vi gây lãng phí được quy định tại Điều 4, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Trong đó quy định chi tiết về: Hành vi gây lãng phí liên quan đến xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí; hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công; hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng; hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư; quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các hành vi gây lãng phí khác theo quy định của Chính phủ.
Một số hành vi gây lãng phí đáng chú ý là: Lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây lãng phí; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra lãng phí trong khu vực nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp lãnh đạo, quản lý hoặc phân công phụ trách; Chỉ đạo hoặc cho chủ trương thực hiện trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc không rõ việc, không cụ thể, không nhất quán gây lãng phí theo quy định của Luật này;
Bao che, dung túng, không xử lý, tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí thuộc phạm vi trực tiếp quản lý, phụ trách; chỉ đạo không chuyển xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự đối với hành vi gây lãng phí mà có căn cứ rõ ràng là có dấu hiệu tội phạm;
Lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung và thời gian, không đúng đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, gây lãng phí; sử dụng ngân sách Nhà nước không đúng mục đích đã được phê duyệt, đối tượng, dự toán được giao; vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định; trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật, gây lãng phí…











