Văn hóa Việt Nam, tầm nhìn phát triển
Tháng 5, tháng của những sự kiện lịch sử trọng đại, đó cũng là dấu mốc quan trọng để chúng ta ứng chiếu quá khứ với thực tại để thấy được bước tiến cũng như tầm nhìn và cơ hội phát triển của đất nước. Cảm quan của từng cá nhân trước thời đại sẽ nói lên nhận thức chính trị và nền tảng văn hóa đó.
Xin bắt đầu chủ đề này bằng nhận định của một nhà lãnh đạo đến từ nước ngoài. Trong cuộc trao đổi với Tuần Việt Nam (Báo VietNamNet) ông Michael S. Dukakis, cựu Thống đốc bang Massachusetts, Hoa Kỳ chia sẻ: “Tôi muốn nói với thế hệ trẻ Việt Nam rằng: Các bạn có một cơ hội rất lớn, nhưng cũng mang một trách nhiệm rất lớn. Các bạn không phải gánh chịu chiến tranh như các thế hệ trước. Nhưng, chính vì thế, các bạn được trao một nhiệm vụ khác: Xây dựng một tương lai xứng đáng với những hy sinh mà đất nước đã trải qua. Trong giai đoạn phát triển mới, trách nhiệm của thế hệ trẻ không chỉ là thành công cho riêng mình. Trách nhiệm ấy còn là học tập nghiêm túc, sống có kỷ luật, giữ gìn phẩm giá, nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, góp phần xây dựng một Việt Nam mạnh hơn, công bằng hơn, hiện đại hơn và có trách nhiệm hơn với thế giới”.

Văn hóa Việt Nam trước cơ hội phát triển xứng tầm trong thời đại mới.
Các thế hệ người Việt Nam đều nhận thức được trách nhiệm: “Xây dựng một tương lai xứng đáng với máu xương mà cha ông đã hy sinh để giành độc lập. Để xây dựng tương lai ấy không chỉ cần sự cần mẫn, chăm chỉ mà cả ý chí, khát vọng và tầm nhìn. Triết gia Hy Lạp Plato (427-347 TCN) từng có một câu nói rất hay: “Người muốn phụng sự đất nước mình không chỉ có năng lực để suy nghĩ mà còn có ý chí để hành động”. Thách thức lớn nhất đôi khi không phải là vướng mắc, trở ngại bởi sự thiếu thốn, bất cập mà đến từ chính tư duy ngại đổi mới, bằng lòng với những “trung bình” như một chiếc bẫy vô hình.
Từ kinh tế đến văn hóa có sự tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ. Hay, nói cách khác, các ngành xã hội nhân văn cũng sẽ rơi vào tình trạng tương tự “cái bẫy thu nhập trung bình” trong kinh tế nếu như không có cái nhìn khái quát, đánh giá tổng thể để có hướng pháp triển mang tính chiến lược.
Điều này, không hẳn là một sự lo lắng xa xôi. Cách đây gần chục năm, trong bài viết có tên: Nguy cơ trung bình của nghệ thuật Việt Nam, vài suy ngẫm trên Báo Lao động, tác giả Nguyễn Như Huy từng chỉ ra: “Khi và chỉ khi chất lượng của chủ thể sáng tạo được nâng cao, chất lượng của công chúng tiếp nhận được nâng cao, tự thân nghệ thuật sẽ thoát khỏi tình trạng trung bình. Một khung cảnh nghệ thuật mà ở đó mối quan hệ giữa nghệ sĩ và công chúng không bị biến thành các hoạt cảnh hào nhoáng song rỗng tuếch; mà ở đó tác phẩm nghệ thuật không chỉ được coi là các vật thể tiền bạc hay đồ chơi trí tuệ kiểu lego - khung cảnh ấy chỉ có thể được tạo ra từ khao khát trở nên lớn lao của cả công chúng và nghệ sĩ, tức những người đã liên tục nhờ vào sự tự giáo dục chuyển đổi và nâng cao chất lượng suy tư, hiểu biết của bản thân mình”. Tương tự như thế khi nói về kiến trúc, tác giả Nguyễn Thúc Hoàng cũng chỉ ra: “Bệnh “chây ì” xuất hiện trong hoạt động sáng tác, chây lười động não, không muốn sáng tạo, ỷ lại, ăn sẵn cho nhanh, kiến trúc ì ạch chậm phát triển” (theo: Tạp chí Kiến trúc, số 3-2021).
Mặt khác, chính bản thân nghệ thuật và văn hóa cũng có sự tác động trở lại với kinh tế, xã hội bởi đó là “nền tảng tinh thần”, là mục tiêu phát triển của xã hội cũng như từng cá nhân.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) đã bổ sung đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bởi thế, chính văn hóa, pháp luật, nghệ thuật (và các yếu tố khác trong hệ thống các hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng) sẽ góp phần bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách con người Việt Nam để xây dựng con người, đặc biệt trong xã hội số (digital society) đang dần hình thành. Đồng thời, đẩy lùi âm mưu “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa từ các thế lực thù địch.

Văn hóa góp phần quan trọng xây dựng sự “dân chủ, công bằng, văn minh”, đặc biệt là trong xã hội số.
Suy cho cùng, tất cả những lý luận đó đều xuất phát từ thực tiễn, có cơ sở thực tế vững chắc. Trong bài này, người viết không có điều kiện thống kê đầy đủ các tiềm năng, lợi thế mà chỉ nhìn giới hạn nội hàm tầm nhìn ấy ở những biểu hiện rõ nét nhất, cho thấy sự chuyển mình của văn hóa Việt.
Trước hết, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, chính sự đa dạng đó nói nên tinh thần dân chủ, tôn trọng khác biệt. Đây là đặc điểm rất quan trong trong hội nhập, trước xu thế tương tác giữa các nền văn hóa. Trong đó, đặc biệt thông qua các yếu tố như: ngôn ngữ, âm nhạc, thực phẩm, thời trang...
Tiếp theo là các di sản văn hóa được kế thừa từ truyền thống. Tính đến năm 2024: “Việt Nam đã có 34 di sản được UNESCO ghi danh, trong đó có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên, 16 di sản văn hóa phi vật thể và 10 di sản tư liệu. Bên cạnh đó, có hơn 40.000 di tích được thống kê, 138 di tích quốc gia đặc biệt, 3.653 di tích quốc gia, 294 bảo vật quốc gia, cùng hơn 4 triệu hiện vật của 179 bảo tàng cũng được xem là một phần của kho tàng di sản văn hóa đang được trưng bày, lưu giữ (theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong Báo cáo tổng kết năm 2024).
Bên cạnh đó là các xu hướng sáng tác mới, như nghệ thuật trình diễn (perfomance), nghệ thuật sắp đặt (instalation), video art, multi media... có chỗ đứng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường giải trí Việt... Hơn nữa, việc bảo tồn, phục dựng các di sản cũng là nền tảng để phát triển các lĩnh vực như du lịch, điện ảnh. Ví dụ gần đây nhất là bộ phim điện ảnh “Hoàng hậu cuối cùng” (hợp tác giữa Galaxy Studio, HKFilm và MAR6 Studios; đạo diễn Bảo Nhân và Namcito) đã được khởi quay tại điện Kiến Trung - Đại nội Huế, hay trước đó là “Thiên mệnh anh hùng” được quay tại các di tích: cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động và Tràng An...

Văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, tạo nên sức mạnh nội sinh.
3 khía cạnh trên tuy chưa phản ánh đầy đủ hết tiềm năng văn hóa Việt Nam nhưng là minh chức sinh động cho nội lực văn hóa và cơ hội để phát triển theo những chiến lược lâu dài. Theo quan điểm của Texas University công bố tháng 5/2015, có các tầng: “Ở tầng sâu nhất: Các giá trị (values). Từ trong đó các giá trị, hình thành nên các cốt lõi của một nền văn hóa. Tầng thứ hai: Các nghi thức (rituals). Là các chuẩn mực hoạt động tập thể, được coi là cần thiết trong xã hội. Từ cách chào hỏi, các dạng giao tiếp, các nghi lễ tôn giáo và xã hội, v.v...).
Tầng thứ ba: Các nhân vật - anh hùng (heroes). Là những nhân vật quá khứ hay hiện tại, thực hay hư cấu, có đặc điểm được đánh giá cao trong một nền văn hóa. Họ tồn tại như là mô hình cho hành vi. Tầng thứ tư: Các biểu tượng (symbols). Là lời nói, cử chỉ, hình ảnh hoặc các vật mang một ý nghĩa đặc biệt, được công nhận bởi những người chia sẻ một nền văn hóa cụ thể. Biểu tượng mới dễ dàng phát triển, những cái cũ biến mất. Biểu tượng từ một nhóm cụ thể thường xuyên được sao chép bởi người khác. Đây là lý do tại sao các biểu tượng đại diện cho lớp ngoài cùng của một nền văn hóa” (theo: GS.TSKH Phan Xuân Sơn - ThS Chu Thị Thanh Huyền, Tạp chí Lý luận chính trị).
Nếu dựa trên cách đánh giá này, văn hóa Việt Nam cũng cho thấy sự đa dạng, phong phú và có lợi thế trong hội nhập. Vấn đề đặt ra là ở cách khai thác, bảo tồn, tiếp biến để có một tương lai xứng tầm với kì vọng của chúng ta...











