Văn khấn: ký ức văn hóa trong đời sống người Việt

Từng có tác phẩm 'Thờ cúng cổ truyền Việt Nam' được độc giả Nhã Nam bầu chọn là Cuốn sách của năm 2025, mới đây, tác giả Trung Chính Quách Trọng Trà tiếp tục ra mắt 'Văn khấn cổ truyền Việt Nam', tập hợp những bài văn khấn mẫu mực, kèm các hướng dẫn cụ thể, dễ dàng áp dụng.

Các bài khấn này được tuyển chọn và đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu, có thể kể đến các thư tịch cổ, ghi chép dân gian lưu giữ tại nhiều vùng miền. Điều đặc biệt là tác giả đã đặt tiêu chí đa dạng và chú trọng yếu tố thực hành, phù hợp hơn với nhịp sống hiện đại.

Gia tộc và tôn giáo

Trong đó, không thể không thấy nhiều nhất là những bài khấn hướng đến gia đình cũng như tôn giáo. Trong buổi tọa đàm ra mắt sách(*), nói về sự khác nhau, khách mời - nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn nhấn mạnh rằng trong khuôn khổ họ tộc, những điều mong cầu thường khá cá nhân, thực tế cũng như cụ thể. Ngược lại, với Phật giáo, những điều mong ước lại rộng lớn hơn. Ông ví dụ Phật tử vào chùa làm công đức thường sẽ khấn vái đem công đức hướng về tất cả đệ tử, chúng sanh, trọn thành Phật đạo.

Tác giả Quách Trọng Trà cho biết bản thân đã tinh chỉnh, bổ sung nhiều bài khấn cho phù hợp với ngày hiện đại.

Tác giả Quách Trọng Trà cho biết bản thân đã tinh chỉnh, bổ sung nhiều bài khấn cho phù hợp với ngày hiện đại.

Tác giả Quách Trọng Trà tiết lộ bên cạnh các bài khấn được giữ xuyên suốt nhiều thế hệ, bản thân cũng viết mới nhiều bài mới dựa trên các “gốc gác” cũ. Trong đó, ông đã khéo léo kết hợp những lời cầu, lời nguyện hướng đến cộng đồng, dù là trong những buổi thờ cúng tại gia vào ngày rằm hoặc cúng giao thừa.

Đơn cử bài cúng giao thừa in trong sách mới có câu: “Cầu quan hành khiển uy quyền đánh tan bão tác, xua tan mây mờ, đuổi quân cướp nước chực chờ, giữ yên bờ cõi, ấm no thanh bình”. Với tinh chỉnh này, có thể thấy các bài văn khấn bên cạnh hướng đến tổ tiên, thì cũng đồng thời chứa đựng giá trị cộng đồng, hướng đến sự thanh bình của quê hương, đất nước.

Như vậy, theo ông, những văn bản này “vẫn nằm trong dòng chung của tự tình dân tộc. Chúng không chỉ mang tính chất vị kỷ hướng đến cái tôi cá nhân, lợi ích của một gia đình mà đâu đó vẫn nghĩ đến quốc thái dân an, cầu cho khí hậu, mùa màng tươi tốt, yên bình được giữ hài hòa”. Ông bày tỏ đó chính là nét đẹp mà tiền nhân đã để lại cho chúng ta hôm nay.

Đặc biệt, hai hướng nói trên không rạch ròi mà nhiều khi còn giao hòa, lồng chứa trong nhau. Chẳng hạn nhiều độc giả thắc mắc vì sao có nhiều bài khấn lại được mở đầu bằng câu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Lý giải điều này, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn tiết lộ đó là phong tục đến từ miền Bắc.

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn đánh giá cao tầm quan trọng của cuốn sách.

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn đánh giá cao tầm quan trọng của cuốn sách.

Theo nhà nghiên cứu thì các bà, các cụ ở khu vực này cứ bước vào cúng chùa là bắt đầu niệm. Điều đó lâu dần trở thành “phong tục” đặc trưng, nên những bài khấn của khu vực này thường có câu trên. Nhưng khi vào đến miền Trung, thì các câu này không còn nữa, bởi người nơi đây thường chỉ niệm Phật khi đến chùa.

Ông nói tiếp: khi ở nhà, người miền Trung và cả miền Nam chỉ kính lạy ông cố bà cố, ông nội bà nội hay hương linh nội gia quyến thuộc chứ không có phía ngoại, bởi họ quan niệm bên ngoại là ngoại tộc, không còn can dự vào chuyện gia đình. Qua đó có thể thấy tùy theo phong tục, tập tục của mỗi vùng, mỗi miền, mỗi địa phương mà có sự khác nhau.

Tác giả Quách Trọng Trà cũng bổ sung thêm khi tập hợp các bài văn khấn, bên cạnh họ nội, ông cũng thêm vào họ ngoại để phù hợp hơn với ngày nay, khi các vấn đề phân biệt giới tính không còn đặt nặng.

Bìa sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam (Nhã Nam và NXB Thế giới ấn hành).

Đa dạng và phong phú

Nói về tầm quan trọng của cuốn sách, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn chia sẻ văn khấn là một văn bản vô cùng quan trọng. Nhất là ở kinh đô Huế, thì các văn, sở, điệp cúng phải được viết bởi người có “chuyên môn”, nghiên cứu kỹ càng cũng như đúng với tiêu chuẩn đã được định ra trong sách Thọ Mai gia lễ.

Bởi đây là vùng rất gần với các vua chúa, nên nếu làm sai, dễ bị quy tội “tiếm dụng” – một tội rất nặng. Ông so sánh điều đó “tương tự như việc không phải quan chức mà đem gấm năm màu ra may áo vậy. Thời xưa người taquan niệm tiếm dụng là có tham vọng, nên khi vướng vào vô cùng phức tạp”. Tác giả Quách Trọng Trà cũng bổ sung thêm nghi lễ thờ cúng thực ra có lớp có lang và rất nghiêm cảnh, chia theo giai tầng xã hội.

Bàn thờ truyền thống được dựng trên sân khấu sự kiện để khán giả tham quan, đối chiếu.

Bàn thờ truyền thống được dựng trên sân khấu sự kiện để khán giả tham quan, đối chiếu.

Nói thêm về việc có được quyền phối hưởng tộc ngoại hay không, ông Trà cho biết trong các gia đình không có con trai nối dõi, thì từ mấy trăm năm trước, người dân Nam bộ đã cho phép điều này. Qua đó cho thấy nét “mở” của vùng địa lý - văn hóa nơi đây.

Không dừng ở đó, trong thời đại bình đẳng giới ngày nay, thì chuyện người phụ nữ đứng ra để lo giỗ quải cũng như khấn vái ngày càng nhiều hơn. Thậm chí ông quan sát thấy một điều độc đáo là nhiều bà mẹ (má), bà nội, bà ngoại tuy mù chữ nhưng lại rất thuộc văn khấn theo lối dân gian truyền tụng.

Ông nói: “Họ đọc văn khấn như một bài vè có lớp có lang, trên thiên dưới địa, vô cùng đầy đủ. Có thể không hiểu nội dung nhưng họ đã truyền nó cho các thế hệ sau như một bài ru. Đây có thể xem là một trong những nét đẹp của văn hóa Việt Nam”.

Trong buổi ra mắt sách, bên cạnh những thảo luận thú vị về văn khấn và tập tục thờ cúng, ông Đồng Phương Quang cũng giới thiệu nhiều hơn về các thành phần trên một bàn thờ, qua đó làm rõ những điều gây nhiều tranh cãi.

Một trong số đó là quy tắc “đông bình tây quả” - bình hoa đặt bên trái (phía Đông) và mâm trái cây đặt bên phải (phía Tây), tính theo hướng từ trong bàn thờ nhìn ra. Theo ông, cách bài trí này tuân theo quy luật tự nhiên (mặt trời mọc ở phía Đông, lặn ở hướng Tây; cây ra hoa trước kết trái) nhằm cân bằng âm dương, mang lại tài lộc và sự thịnh vượng.

Ngoài ra, việc dâng chuối cúng cũng được nhắc đến. Theo đó, nhiều người cho rằng loại trái cây này nên tránh trong đĩa ngũ quả vì niềm tin “chúi nhủi”, nhưng theo ông Quang, bởi thuở xưa trong vườn có loại trái nào thì người dân sẽ cúng quả đó, mà chuối ở miền Nam rất nhiều nên rất hay xuất hiện.

Ông Đồng Phương Quang cho biết búp hoa (bên phải) được học hỏi từ Kinh đô Huế, lâu dần trở nên quen thuộc với người Nam Bộ.

Về cách trưng bày, chuối đặt bên dưới như một cái đế, và những loại quả khác sẽ được đơm bên trên hoặc phía ngoài. Điều này thể hiện sự bao bọc, giống như chuối là bàn tay nâng đỡ, che chở.

Một chi tiết khác cũng được nhắc đến đó là búp hoa. Ông Quang cho biết nguồn gốc sâu xa của chi tiết này đến từ cung đình Huế. Trong quá trình vào triều để tiếp nhận giấy tờ, văn bản, cách trang trí này đã được tiếp nhận, mang vào trong Nam. Một lý do khác là bởi thuở xưa chưa có nhiều hoa tươi như bây giờ, dẫn đến việc làm búp hoa từ tinh tre (thân tre vót nhọt) tương đối phổ biến, lâu dần trở thành điểm nhấn quen thuộc…

Từ những điều trên có thể thấy rằng nghi lễ thờ cúng không hề cố định, mà luôn vận động, thay đổi theo hướng vừa giữ gìn khuôn phép, lễ nghi truyền thống, vừa thích ứng với những thay đổi của xã hội đương đại.

Ở đó, văn khấn không đơn thuần là lời cầu xin, mà còn là ký ức văn hóa, là cách người Việt gửi gắm niềm tin, đạo hiếu và ý thức cộng đồng. Trong bối cảnh nhiều giá trị xưa đang đứng trước nguy cơ mai một, công trình của tác giả Quách Trọng Trà có thể xem như một nỗ lực đáng kể nhằm lưu giữ, hệ thống hóa và làm sáng rõ một di sản tinh thần vốn âm thầm nhưng bền bỉ chảy trong đời sống người Việt.

Bài: Minh Anh - Ảnh: Thế Sang

______________________

(*) Sự kiện Văn khấn Việt - Hiểu đúng để thực hành đúng diễn ra chiều ngày 7.2 tại Đường sách TP.HCM.

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/van-khan-ky-uc-van-hoa-trong-doi-song-nguoi-viet-51686.html