Về bên núi đợi

Người trong thôn Vinh Tiên chẳng ai còn nhớ rõ cái ngày Lan theo chồng lên núi, chỉ nhớ khi ấy, hoa sim nở tím cả triền đồi. Cô dâu mới người miền xuôi mặc chiếc áo thun trắng, quần jeans ống vẩy, đi đôi giày cao gót cứ lún mãi xuống con đường đất đỏ còn nhão sau cơn mưa đêm.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Lên đến lưng chừng dốc, Lan dừng lại. Trước mặt cô là căn nhà cấp bốn dựa lưng vào núi. Khói bếp từ gian sau bay lên, ám mùi củi nồng. Xa hơn chút nữa, con suối dưới chân nương ngô lấp loáng ánh chiều, tiếng nước chảy rì rầm như có ai đang trò chuyện.

Lan quay sang chồng:

- Nhà mình đây hở anh?

Thân cười hiền:

- Nhà chị Hương chứ. Mình trông quán cho chị một thời gian thôi. Chị bảo cứ chịu khó làm ăn, rồi dành dụm mà dựng lấy căn nhà của mình.

Lan ngước mắt nhìn quanh. Núi trùng điệp bốn phía, vài mái nhà lợp ngói thấp thoáng sau những vạt cây xanh thẫm. Chưa bao giờ cô thấy bầu trời gần đến thế.

- Quê em dưới xuôi chẳng có ngọn núi nào.

Thân nhìn vợ:

- Ở đây em có sợ không?

Lan khẽ lắc đầu rồi cười, mắt lấp lánh.

Chị Hương chẳng tin Lan ở nổi trên này. Không chỉ bởi Lan là một “cô dâu miền xuôi”, mà còn vì trước đó, cô đã có năm năm sống ở miền Nam sầm uất.

Cũng chính mảnh đất phương Nam ấy là nơi Thân gặp vợ mình lần đầu. Ngày ấy, Lan làm công nhân cho một công ty giày da ở Đồng Nai. Cô gái Bắc nhỏ nhắn, ăn nói có duyên, nhanh nhẹn mà thật thà đã khiến Thân ấn tượng ngay lần đầu gặp mặt.

Quen nhau hơn một năm, Thân hỏi:

- Lan chắc hợp bán hàng lắm em nhỉ?

Lan cười:

- Anh định thuê em à?

- Thuê cả đời có được không?

Vậy là sau đám cưới, hai vợ chồng gói ghém hành lý rời phương Nam để về xứ Lạng.

Lần đầu nghe chuyện, chị Hương đã lắc đầu “Con bé này chẳng mấy mà đòi về lại phố cho mà xem”. Ấy vậy mà chưa đầy năm, Lan đã thuộc tên từng người trong xã. Rồi chẳng biết học từ bao giờ mà cô còn nói được cả tiếng Tày.

Bác Hạnh sang chơi, nghe Lan trò chuyện, liền tấm tắc:

- Cháu Lan giờ nói tiếng Tày sõi như mấy đứa lớn lên ở đây rồi.

Lan cười tươi như đóa hoa vừa gặp nắng.

Người trong xã bảo vợ chồng Thân có số làm ăn.

Cái quán tạp hóa ở lưng chừng dốc lúc nào cũng đông khách. Bà con đi rừng về tiện ghé mua thùng mì, chai nước mắm; đến mùa lúa, mùa ngô thì mua lân đạm, thuốc trừ sâu; mấy đứa trẻ tan học chạy sang mua sách vở, bánh kẹo...

Thân còn dùng quán làm điểm thu mua nhựa thông, nụ vối, vỏ cây thuốc của bà con để bán cho thương lái. Chẳng mấy chốc chị Hương phải thuê thêm người trông quán.

Thấy hai vợ chồng chịu khó, chị bảo:

- Cố gom góp mua miếng đất mà dựng nhà. Thiếu bao nhiêu thì bảo chị.

Vậy là hai đứa mua được mảnh đất cách đó không xa rồi dựng căn nhà nhỏ, mở quán riêng.

Mấy cái quán san sát nhau như thế mà chẳng ai tranh giành với ai. Nhà này bán hàng ăn, nhà kia bán quần áo, vật liệu xây dựng. Thân với Lan bán lân đạm, thóc gạo kèm đủ thứ lặt vặt. Mùa nào thức ấy, vài ngôi quán thôi mà đủ hết nhu cầu cho bà con trong xã và mấy vùng lân cận.

Chỉ có rau là hiếm.

Đất trên này toàn đá với sỏi, mùa nắng thì khô rang, mùa mưa lại lầy nhão. Bà con quen ăn rau rừng, rêu suối, kỳ công hơn chút thì vứt mấy vạt bí cho bò lan ở sườn đồi rồi lấy ngọn, lấy quả chế biến, chẳng ai trồng mấy loại rau như dưới xuôi.

Vậy là Lan tiếc. Cô bảo không hiểu sao cứ nhớ cái mùi rau mới hái ngoài vườn. Rồi Lan cặm cụi cuốc miếng đất bên chái nhà. Đá lượm được chất thành từng đống. Cục đất nào còn cứng thì dùng dao rừng băm nhỏ.

Chiều chiều, khi quán đã vãn khách, cô lại xách sọt tre đi dọc đường nhặt từng đống phân bò, phân ngựa. Người đi qua nhìn thấy ai cũng cười, chẳng hiểu Lan nhặt để làm gì.

Lan mang mớ phân ấy về ủ, rải lên những luống đất đã phơi gió, phơi sương cả mấy tháng trời. Đầu mùa xuân năm ấy, mấy luống cải ngồng nhú lên những đọt lá xanh non; đám mồng tơi bung ngọn mướt mượt như chẳng hề biết đến đá sỏi; cây ớt Lan trồng cho Thân cũng ló ra chùm quả đầu tiên. Mảnh vườn nhỏ xíu mà đủ cho mâm cơm của hai vợ chồng có rau xanh quanh năm.

Vừa thương vợ vừa xót mấy luống rau cứ bị đàn gà nghịch ngợm bới tung, Thân chặt mấy cây tre già ngoài nương về đan thành hàng giậu. Chạy xe trên đường thấy cái cây có tán lá đẹp quá, Thân lại xin một nhánh đem về trồng trước sân. Biết vợ thích những loài hoa có hương thơm, Thân trồng thêm chậu nguyệt quế, bụi hoa dạ hương, treo mấy giò lan rừng.

Dần dà, căn nhà nhỏ khác hẳn những nhà xung quanh. Mấy người đi ngang nhìn thấy liền bảo:

- Ngó là biết chẳng phải người xứ này.

Loáng cái mà bốn năm trôi qua.

Ban ngày bận bịu bán mua, khách khứa ra vào tấp nập, hai vợ chồng chẳng thấy thiếu thốn gì. Chỉ đến khi màn đêm buông xuống, nằm nghe tiếng suối róc rách sau nhà, cả hai mới thấy căn nhà rộng ra đến lạ. Có những khi nghe tiếng trẻ con hàng xóm khóc oe oe, Thân lại thấy lòng mình nghèn nghẹn. Giá mà trong nhà mình cũng có một tiếng khóc như thế.

Chẳng ngại nhọc nhằn, hai vợ chồng đi hết thầy lang này đến thầy thuốc khác. Người mách lá cây, người chỉ thuốc Bắc, ở đâu có hy vọng là Lan lại khăn gói theo chồng.

Đến khi bác sĩ dưới Hà Nội bảo buồng trứng của Lan suy yếu, khó có con tự nhiên, cô mới ngồi lặng đi hồi lâu. Hôm ấy trên chuyến xe trở về xứ Lạng, Lan chỉ tựa đầu vào cửa kính, suốt ngày đường chẳng nói một lời.

Tối đến, cô nằm quay mặt vào tường, bảo chồng:

- Hay là mình thôi anh nhỉ...

- Thôi gì?

- Thôi chữa.

- Sao lại thôi?

- Em sợ.

- Sợ gì?

- Nhỡ… cả đời này, em chẳng sinh được con cho anh.

Sự im lặng như phủ đặc cả đêm tối.

Thân đưa tay sang, kéo chiếc chăn lên ngang vai vợ.

- Anh chỉ cần có em thôi.

Lan quay đi, nước mắt thấm ướt cả gối.

Nhưng ông trời dường như vẫn thử thách lòng người. Hết lần này đến lần khác, hy vọng đến rồi đi, cái bụng sau làn áo của Lan vẫn y như thời con gái.

Có lần đi cất hàng, Lan tiện tay mua một đôi tất trẻ con nhỏ xíu, mang về giấu dưới gối nằm. Mấy tháng sau, cô lặng lẽ cất xuống đáy tủ, rồi chẳng bao giờ nhắc đến nữa.

Mười năm trôi qua.

Khuôn mặt Lan đã thêm vài nếp nhăn, mái đầu Thân bắt đầu lẫn vài sợi bạc. Cây mận sau nhà đã cho mấy mùa quả. Đứa cháu gái của bác Hạnh ngày nào còn sang mua kẹo, giờ đã ra thị trấn học cấp ba. Chỉ có căn buồng nhỏ giữa nhà, nơi vợ chồng dành để làm phòng cho con vẫn để không.

Chị Hương thương em út, rồi cũng hết cả kiên nhẫn.

- Thôi, kiếm người khác đi. Đàn ông không có con thì sau này biết cậy ai?

Mấy cô gái trẻ thấy Thân mang xe máy xuống suối rửa lại cười đùa:

- Anh Thân lấy vợ hai đi. Sinh đứa con trai để nó rửa xe cùng.

Thân cười buồn. Anh không giận ai cả, chỉ thấy thương vợ nhiều hơn. Thương người đàn bà từng bỏ phố, bỏ quê theo mình lên núi. Thương đôi bàn tay nhặt từng đống phân bò ngoài đường để gầy luống rau. Thương những đêm Lan quay mặt vào tường, tưởng chồng đã ngủ rồi lặng lẽ khóc.

Có lần, giữa đêm, Thân nghe tiếng vợ thì thầm.

- Xin lỗi anh!

Anh thấy ngực mình đau như có ai bóp chặt, nước mắt chảy dài, vòng tay ôm vợ chặt hơn.

Em gái Lan ra trường rồi vào Sài Gòn làm việc. Cô gọi điện về, động viên anh rể và chị gái vào Nam tìm cơ hội mới. Vậy là sau hơn chục năm rời phương Nam, hai vợ chồng lại có dịp đáp máy bay quay lại miền đất từng gắn bó.

Ngay lần chọc hút trứng đầu tiên, niềm vui đã mỉm cười với họ. Mười bốn phôi được tạo thành, trong đó có nhiều phôi đẹp. Sau bao năm mòn mỏi, đó là tín hiệu tốt đẹp đầu tiên mà ông trời gửi đến họ. Yên tâm gửi gắm vợ ở lại Sài Gòn để chuẩn bị cho chặng đường phía trước, Thân trở về quê, mở lại cửa hàng.

Những ngày thiếu vợ, Thân thấy cuộc sống của mình trở nên chông chênh và quạnh quẽ. Căn nhà như rộng hơn, bữa ăn nguội lạnh, vắng cả tiếng nói, tiếng cười. Thiếu bàn tay Lan, mọi thứ trở nên buồn tẻ đến lạ.

Buồn nhất hẳn là khu vườn với cái chuồng gà. Đợt rau Thân mới gieo chỉ lên lác đác; lũ gà cũng như gầy đi, con nào con nấy xác xơ hết cả.

Ban ngày tất bật với khách khứa, hàng hóa nên nỗi nhớ tạm lắng xuống, nhưng đêm về, khi căn nhà chỉ còn lại mình mình, Thân cảm nhận sự trống trải đang len lỏi từng ngách nhỏ.

Anh nấu ăn, giặt giũ, tập ngủ một mình, nhưng chẳng thể nào quen nổi với sự vắng mặt của người vợ hiền đã cùng mình đi qua bao năm tháng. Mỗi tối, gọi cho vợ nghe chuyện khám bệnh, chuyện em gái đi dạy thêm về muộn, chuyện bữa cơm ở Sài Gòn có món gì, Thân mới thấy lòng mình ấm lại.

Một chiều cuối tháng Hai, sương xuống sớm. Thân đang xếp lại mấy thùng mì, vài bao gạo trước cửa quán thì điện thoại rung lên. Màn hình hiện chữ “Vợ anh”, Thân nghe máy.

Đầu dây bên kia không nói gì, chỉ có tiếng khóc. Thân giật mình:

- Sao thế em?

Một lúc lâu mới nghe giọng Lan nghẹn ngào:

- Mình ơi... chờ khi nào… thai được ba tháng,… hai mẹ con em… sẽ… về với anh nhé!

Trước hiên, giò phong lan bung nở những đóa hoa tím đầy kiêu hãnh.

Thân ngồi lặng nhìn ngọn núi trước mặt thẫm dần trong khói chiều.

Mười bốn năm.

Núi vẫn ở đó.

Tiếng suối dưới chân nương vẫn rì rầm như có ai đang trò chuyện.

PHẠM HUYỀN TRANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ve-ben-nui-doi-3347928.html