Về câu tục ngữ “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”
Theo một cách diễn đạt kinh nghiệm mài mực khác, tục ngữ còn có câu Mực mài tròn, son mài dài. Vậy câu này có gì khác so với câu Mài mực ru con, mài son đánh giặc?

Khi mài mực, tay giữ cố định cho thỏi mực luôn vuông góc với mặt nghiên, rồi nhẹ nhàng, đều tay mài theo vòng tròn của lòng nghiên. Cách mài này khiến người ta, dù có sốt ruột muốn mài mạnh tay cũng không mài nhanh được; ngược lại khi mài son, phải mài theo đường thẳng (giống thợ mộc bào gỗ) cho có lực, để chất son nhanh hòa ra nước. Mặt khác, động tác “mực mài tròn” (lúc thuận, lúc ngược chiều kim đồng hồ), mặt cắt của đầu thỏi mực luôn cọ xát song song với mặt nghiên, lực mài luôn ổn định, lại có tác dụng vừa mài vừa chà, làm cho mực càng được mịn thêm.
Như vậy, câu tục ngữ “Mực mài tròn, son mài dài” góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề: mài mực cần phải nhẹ tay, chứ không phải chỉ cần mài nhẹ tay. Nếu vấn đề chỉ đơn giản là thỏi mực mềm, dễ mài hơn cục son cứng, thì “mực mài tròn” hay “mài dài” đâu có quan trọng. Nói cách khác, người ta sẽ mài mực theo cách của mài son cho nhanh.
Tục ngữ Hán có câu Nhân phi ma mặc, mặc ma nhân 人非磨墨, 墨磨人 (dị bản Phi nhân ma mặc, mặc ma nhân 非人磨墨, 墨磨人) = Người không mài mực, mà mực mài người, ý nói chính thỏi mực mới là vật đang mài mòn ý chí, thử thách lòng kiên trì của con người vậy(1). Lại có câu Độc thư chân sự nghiệp, ma mặc tịnh công phu 讀書真事業, 磨墨靜功夫 = Học hành là một sự nghiệp; mài mực cũng cần khổ công. Thế nên, học trò xưa đi học, việc đầu tiên là phải gò lưng mài mực cho thầy rồi sau mới đến học chữ.
Có một câu chuyện khác liên quan đến mài mực. Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh, tác giả Thanh Hóa quan phong và Thanh Hóa kỷ thắng, là người có tiếng văn hay chữ tốt. Sau khi xong việc quan, Tổng đốc Vương Duy Trinh thường dành thời gian cho thư pháp. Ông rất cầu kỳ trong chuyện mài mực. Làng Hạc Oa (nay thuộc phường Hạc Thành, Thanh Hóa) có người (không rõ tên thật) vì mài mực rất khéo nên được Tổng đốc chọn để chuyên mài mực cho mình, sau được ban hàm Cửu phẩm, tục gọi là ông Cửu Mặc, theo cách hiểu của dân gian là “Cửu phẩm mài mực”(2).
Ngày nay, nếu ngại mài mực, đã có loại mực pha sẵn, gọi là “mặc trấp” 墨汁 (mực nước). Tuy nhiên, mực pha sẵn viết không đẹp, không thơm hương bằng mực mài(3). Bởi vậy một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc... chế ra chiếc máy mài mực (ma mặc cơ 磨墨機). “Tay máy” (có gắn mô tơ chạy chậm) kẹp cố định thỏi mực, rồi máy cũng nhẫn nại “mài tròn”, chầm chậm giống như mài mực thủ công. Tuy thế cũng mất vài tiếng mới được một mẻ. Xét thực tế, mài mực yêu cầu phải có kỹ thuật và lòng kiên nhẫn rất cao.
Những câu chuyện trên đây cho thấy việc “mài mực” công phu, quan trọng biết chừng nào!
Như vậy, vấn đề ở đây không phải mực tàu mềm, dễ mài hơn so với son, mà là kỹ thuật mài mực cần nhẹ nhàng, từ từ, khác với mài son thì được phép mài mạnh tay.
Theo chúng tôi, trong số rất nhiều cuốn từ điển, cách giảng sau đây của Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào - NXB Văn hóa, 2000), tuy chưa giải thích thật cụ thể nghĩa đen của câu tục ngữ, nhưng về cơ bản là đúng: “Mài mực ru con, mài son đánh giặc (mực: thỏi mực màu đen mài ra để viết; son: đá đỏ, mài ra làm mực viết, vẽ bằng bút lông). Một kinh nghiệm mài son và mài mực: mài mực thì nhẹ tay (như người ru con), mài son thì mạnh tay (như người đánh giặc)”.
Hoàng Tuấn Công (CTV)
Chú thích:
(1) Nhân phi ma mặc, mặc ma nhân (Người không mài mực, mà mực mài người) còn có nghĩa bóng, chỉ việc học hành, nghề bút mực phải hao tổn tâm trí.
(2) Chuyện về ông Cửu Mặc do Lương y Đỗ Tấn Long (người Hoằng Hóa, Thanh Hóa) cung cấp cho tôi năm 2003. Như vậy, nếu vua Tự Đức từng phong cho cái nghiên mực quý của mình tước Hầu, gọi là Tức Mặc Hầu, thì Tổng đốc Vương Duy Trinh lại có một người mài mực được ban hàm Cửu phẩm, gọi là ông Cửu Mặc. Đủ biết, câu chuyện Văn phòng tứ bảo thú vị biết chừng nào! Cụ Đỗ Tấn Long còn cho biết, trước năm 1945, tuy khoa cử phong kiến đã suy tàn, nhưng theo nếp cũ, trẻ con lớn lên, những nhà có điều kiện vẫn cho đi học chữ Nho. Cụ Đỗ Tấn Long được thầy đồ cho luyện theo mẫu chữ chân của Tổng đốc Vương Duy Trinh.
(3) Sách Vân Đài loại ngữ (Lê Quý Đôn) viết: “Về đại giả thạch (đá dùng làm son viết), sách Bản thảo nói: “Đá mài ra có sắc đỏ, thì chấm được sách. Sách Sơn hải kinh nói “Lấy nước son bôi vào chân ngựa, thì trừ được bệnh”; lại chua rằng: “Son là đất đỏ, nay người ta lấy son bôi vào sừng trâu, thì trừ được bệnh”.
