Về làng Le vui lễ mở cửa kho lúa

Vỏn vẹn chưa đầy 500 nhân khẩu, theo thống kê mới nhất vào năm 2019, quần cư tại làng Le, xã Mo Rai, tỉnh Quảng Ngãi (mới), dân tộc Rơ Măm từ các bậc già làng đến đám con trẻ đều cảm thấy tự hào mỗi lần nhắc đến dân tộc mình.

Dân làng cùng dựng cây nêu trên sân nhà rông, chuẩn bị cho lễ cúng. Ảnh: Quang Vinh

Dân làng cùng dựng cây nêu trên sân nhà rông, chuẩn bị cho lễ cúng. Ảnh: Quang Vinh

Ý nghĩa của hai từ Rơ Măm là gì thì ngay cả người già nhất buôn làng cũng không thể giải thích. Nhưng đó là tên của dân tộc, với truyền thống văn hóa, lối sống, nếp nghĩ đã tạo nên sự khác biệt của một cộng đồng người có dân số hết sức khiêm tốn ở nước ta. Nằm trong nhóm dân tộc thiểu số cần được hỗ trợ, những năm qua, đồng bào Rơ Măm đã nhận được nhiều chính sách quan tâm thiết thực của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Ngãi, giúp cho cuộc sống và chất lượng dân số của làng Le có nhiều chuyển biến tích cực.

Sau gần 40 năm người Rơ Măm xuống núi, giờ làng Le đã có một chi bộ với 10 đảng viên và các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ hoạt động ổn định. Được sự đầu tư của các dự án, bà con đã khai hoang và trồng được 15ha cây mì, 100ha lúa nước, 15ha cao su tiểu điền cùng hàng trăm con heo, bò, dê... các loại; trên 97% số hộ có xe máy, 100% hộ có ti vi... Người già ở làng Le giờ đây vẫn thường hồi tưởng về quá khứ để bảo ban con cháu biết trân trọng hiện tại. Lòng người già vui khi thấy tất cả các gia đình đều treo ảnh Bác Hồ, càng vui hơn khi làng Le được công nhận là “Làng văn hóa cấp tỉnh”.

Cũng như bao dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, trong tập quán canh tác của người Rơ Măm, cây lúa giữ một vai trò quan trọng, là lương thực chính của họ. Chính vì vậy, người Rơ Măm có một hệ thống nghi lễ liên quan đến cây lúa, từ cúng mở cửa kho lúa, trỉa lúa, cúng lúa lên, mừng lúa mới cho đến bỏ lúa vào kho. Theo đó là hệ thống các thần linh bảo vệ và phù hộ cho cuộc sống của người Rơ Măm như: Thần ngà voi, thần lúa, thần núi, thần sông... Phương thức thu hoạch lúa của đồng bào nơi đây còn khá sơ giản. Lúa được để chín rục trên rẫy đến khô nỏ. Sau khi làm lễ cúng xin được tuốt lúa mới, họ mới bắt đầu thu hoạch bằng cách tuốt hạt thóc bằng tay trần trên bông lúa ngay tại rẫy, rồi bỏ vào chiếc hom nhỏ đeo bên hông. Khi đầy hom mới đổ vào gùi và những gùi lúa này sẽ được đưa vào các kho cất lúa chứ không phải phơi lại.

Trong các gia đình Rơ Măm thường có chiếc ché lem được truyền lại qua nhiều đời. Theo lời già làng A Giói thì ché chỉ được sử dụng mỗi năm một lần trong lễ mừng lúa mới. Nó là hiện thân của thần lúa, của mùa màng bội thu. Khi được mùa, bà con sẽ bỏ vào trong chiếc ché của gia đình một viên cuội để báo với thần linh. Có thể thấy được rằng, do mới rời khỏi cuộc sống biệt lập trong núi rừng chưa bao lâu nên cuộc sống người Rơ Măm vẫn như còn hòa lẫn giữa đời thực và niềm tin siêu nhiên.

Một tài sản đáng tự hào khác của đồng bào Rơ Măm là những bộ chiêng được dân làng gìn giữ tại các gia đình. Theo thống kê của Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi, người Rơ Măm dù là dân tộc có dân số ít nhất vùng, nhưng lại sở hữu số lượng cồng chiêng bình quân đầu người thuộc hàng nhiều nhất, độc đáo nhất là các bộ chiêng Hoăn và chiêng Lào. Không gian văn hóa cồng chiêng của làng Le cũng được bà con gìn giữ trân trọng.

“Dân làng Le còn nghèo lắm, nhiều gia đình đi làm thuê, làm mướn, song không ai bán bộ chiêng cổ được cha ông truyền lại. Bà con quan niệm, nếu không có cồng chiêng, những lễ hội là nơi gắn kết cộng đồng cũng sẽ không còn ý nghĩa, đời sống tinh thần, tâm linh cũng sẽ bị mai một. Vào lúc không phải lên rẫy, người già vẫn truyền dạy các bài xoang, điệu cồng cho đám trẻ”-già làng A Giói tự hào.

Già làng tiến hành lễ hạ Giàng trong nhà rông. Ảnh: Quang Vinh

Già làng tiến hành lễ hạ Giàng trong nhà rông. Ảnh: Quang Vinh

Trong tiếng cồng chiêng rộn rã mừng lúa mới, chúng tôi được dịp chiêm ngưỡng bộ nhạc cụ quý giá này. Được biết, các bộ cồng chiêng nơi đây đa phần có xuất xứ từ Lào, nên âm điệu có phần ngân vang và có giá trị khá cao. Bộ chiêng mà người Rơ Măm dùng để diễn tấu có 11 chiếc. Trong đó có bộ cồng (tức chiêng có núm) gồm 3 chiếc gọi là “guông” với chiếc “Man” là cồng Mẹ tức chiếc lớn nhất, sau đó là chiếc “Môn” tức là chị và chiếc “Măm” tức em gái út. Còn bộ chiêng bằng gọi là “t’lác” 8 chiếc không có tên riêng. Dù bộ chiêng chỉ dành cho đàn ông diễn xướng, nhưng tên gọi nữ tính dành cho bộ cồng đệm chủ đạo đã cho thấy nguồn gốc mẫu hệ của người Rơ Măm.

Lễ hội quan trọng nhất của đồng bào Rơ Măm là lễ hội mở cửa kho lúa trong 3 ngày vào khoảng tháng 11, tháng 12 dương lịch, khi mùa rẫy đã thu hoạch xong xuôi, lúa, bắp, kê và khoai mì đã được bà con đem về cất trong kho. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây là lễ hội lớn đánh dấu sự hoàn tất một chu trình sản xuất nông nghiệp khô, trong một hoàn cảnh sống đặc biệt, gắn với thiên nhiên khắc nghiệt và núi rừng mênh mông vô tận của bà con. Trước khi tổ chức làm lễ mừng lúa mới khoảng 1 tháng, già làng đánh trống thông báo tập trung dân làng tại nhà rông, thống nhất chọn ngày tổ chức để các thành viên trong làng biết mà chuẩn bị lễ vật.

Sát ngày lễ, già làng lại đánh trống để phổ biến thời gian, quy trình tổ chức và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong những ngày chuẩn bị lễ hội. Lúc này, cả làng sẽ cùng tập trung làm cây nêu để dùng trong lễ hội của cả cộng đồng. Trước sân nhà rông, ngọn nêu lớn được làm rất kỳ công với hoa văn trang trí đẹp mắt nhằm thể hiện lòng thành với các thần linh. Ngoài ra, các gia đình cũng sẽ làm cây nêu nhỏ trước cửa nhà mình. Và cây nêu này còn được giữ qua lễ, bởi sau đó là thời điểm người Rơ Măm bước vào mùa cưới của nam nữ thanh niên và lễ bỏ mả cho người đã chết.

Ngày đầu tiên, khi mặt trời vừa ló rạng, các gia đình mang lễ vật lên rẫy để làm các nghi lễ xin với thần linh cho mở cửa kho lúa và thực hiện việc làm cầu thang cho hồn lúa theo đó bò về nhà. Khi đã đầy đủ mọi nhà, già làng sẽ bắt đầu cúng theo phong tục, rồi các gia đình xin lửa thiêng từ buổi lễ để mang về nhà chuẩn bị cho bữa cơm mới đầu tiên trong mùa lúa mới. Buổi chiều, con trâu và con heo nhỏ đã được chọn để hiến sinh được buộc vào cột lễ, xếp các ché rượu thành hàng để chuẩn bị cho lễ đâm trâu ngày hôm sau.

Ngày lễ thứ hai, khi tiến hành dâng lễ vật lên thần linh là con trâu mạnh khỏe, béo tốt, dân làng sẽ vẩy gạo vào trâu và dần tạo thành một vòng chiêng-xoang lớn, múa hát ngược chiều kim đồng hồ quanh cây nêu. Sau lễ cúng, bà con ăn mừng, múa hát từ sáng tới đêm thâu mới trở về nhà trong sự mãn nguyện về niềm tin và sự cộng cảm đầy hứng khởi của tình đoàn kết, tình dân tộc, thân tộc.

Ngày thứ ba là ngày có nhiều nghi thức hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của bà con, còn được gọi là ngày ăn đầu trâu, ngày làm lễ hạ Giàng. Đầu trâu và tượng Giàng được trai tráng rước về nhà rông để già làng tiến hành lễ rửa Giàng. Khi hoàn thành công việc thiêng liêng này, Giàng sẽ được đặt lên đúng vị trí trang trọng nhất trên nóc nhà rông.

Và ngày vui cuối cùng là sự tươi mới, mát lành đến từ những bầu nước được các thiếu nữ gùi về từ ban mai. Cả làng háo hức té nước vào nhau để cầu chúc may mắn đến với mọi người.

Dẫu không phải vào mùa “ăn năm, uống tháng” đầu xuân như các dân tộc khác, song niềm vui, sự no ấm và điệu chiêng-xoang với dàn chiêng đáng tự hào của đồng bào Rơ Măm có sức lôi cuốn rất lớn ở vùng rừng này. Lễ cúng mở cửa kho lúa chính là ước muốn chinh phục thiên nhiên để có cuộc sống tốt đẹp hơn, đồng thời cũng là dịp để gắn kết sức mạnh cộng đồng, tình thân gia đình và là không gian bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây.

Đặng Tuệ Lâm

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/ve-lang-le-vui-le-mo-cua-kho-lua-post504927.html