Về sự khác nhau giữa hai cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (phần 4)
Tóm tắt phần (3): Chúng tôi đã chỉ ra sự khác nhau giữa Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Phê chủ biên) gọi tắt là bản Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ, và Từ điển tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học Vietlex - Hoàng Phê chủ biên) gọi tắt là Hoàng Phê - Vietlex, qua 4 mục từ: gấu lợn, gấu ngựa, máy bào, ngũ âm.

Trong bài (4) này, chúng tôi tiếp tục so sánh cách giải thích ở một số mục từ. Trong đó bản Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ giải thích sai, hoặc chưa hợp lí so với bản sửa chữa của Hoàng Phê - Vietlex (đánh số tiếp theo kì trước):
9- đèn đóm: Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ: “đèn đóm d. (kng.) Đồ dùng để thắp sáng (nói khái quát). “Trời đen như mực. Không đèn đóm nào chống lại nổi với mưa, với gió” (Nam Cao). ĐN đèn đuốc”.
10- đèn đuốc: Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ: “đèn đuốc d. (kng.) Như đèn đóm”.
Cách giảng “đèn đóm” đồng nghĩa với “đèn đuốc” không ổn.
Đuốc trong đèn đuốc là dụng cụ thắp sáng được làm từ nhiều cây nứa nhỏ đập giập hoặc các thanh tre ghép thành bó. Đuốc chuyên dụng có cán để cầm, được thắp bằng nhựa trám, nhựa thông. Khi thắp đuốc có nghĩa là dùng đến dụng cụ có khả năng soi sáng tốt, cường độ ánh sáng mạnh (như chính từ điển đã ví dụ “đèn đuốc sáng trưng”; và quán ngữ “Đốt đuốc tìm cũng không ra”, ý nói tìm kiếm vật gì rất khó, khó đến mức, sáng như đuốc mà tìm cũng không ra nổi).
Còn đóm trong “đèn đóm” là một dụng cụ để châm lửa chứ không phải thắp sáng. So với đuốc, đóm nhỏ hơn hàng chục lần, và chỉ cháy trong khoảng thời gian rất ngắn. Vì không phải dụng cụ thắp sáng nên ánh sáng của đóm rất hạn chế.
Trong thực tế, người ta có thể nói “đèn đuốc sáng trưng” chứ không nói đèn đóm sáng trưng. Hoặc nói đèn đóm tù mà tù mù chứ không nói đèn đuốc tù mà tù mù. Chính câu văn của Nam Cao “Trời đen như mực. Không đèn đóm nào chống lại nổi với mưa, với gió” mà Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ lấy làm ví dụ ở trên cho ta thấy, Nam Cao đã dùng từ “đèn đóm” để nói lên cái yếu thế của phương tiện thắp sáng lập lòe, phập phù trước “trời đen như mực”, “với mưa, với gió”.
“Đóm” còn cấu tạo nên một từ “hiện đại” hơn, đó là “điện đóm”, và nó vẫn ám chỉ phương tiện thắp sáng bằng điện nói chung, nhưng ánh sáng không tốt. Ví dụ Điện đóm gì mà tù mà tù mù thế này. Hoặc tách “điện” và “đóm” ra để nhấn mạnh hơn: Điện với chả đóm! (điện mà giống như đóm). Thế nên, chính Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ, ở mục từ “điện đóm” cũng đã giải thích là: “Điện, đèn điện để thắp sáng nói chung (thường hàm ý mỉa mai; nói khái quát). Điện đóm tù mù” là vậy.
Tóm lại, đèn đuốc và đèn đóm không phải là hai từ đồng nghĩa như cách giải thích của bản Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ.
Hai mục từ này, Hoàng Phê - Vietlex giảng chính xác hơn: “đèn đóm d. [kng] đèn để thắp sáng [nói khái quát, thường hàm ý mỉa mai]. “Trời đen như mực. Không đèn đóm nào chống lại nổi với mưa, với gió”. (Nam Cao)”; “đèn đuốc d. [kng] đèn để thắp sáng [nói khái quát, thường hàm ý mức độ mạnh]. đèn đuốc sáng trưng ~ “Đến nơi, trời đã tắt - Đứng ngoài bờ dậu nhìn vào nhà không đèn đuốc tối om (...)” (Trần Kim Trắc)”.
Mời ông Trần Quốc Vương và độc giả tiếp tục theo dõi trong những bài tiếp theo.











