Vị giáo sư từ bỏ nhung lụa, cho đỉa cắn… tìm cách chữa bệnh, cứu người
GS Đặng Vũ Hỷ là một nhân cách toàn diện và tiêu biểu trong ngành y học Việt Nam. Tên ông được vinh danh trong Từ điển 'Danh nhân Y học thế giới'.
GS.BS Đặng Vũ Hỷ là một trí thức giàu lòng yêu nước, một trong những người thầy đầu tiên của y học hiện đại Việt Nam. Ông là một trong 12 người được phong học hàm Giáo sư đầu tiên của nước ta, cũng được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Y học đợt đầu tiên (năm 1996).

GS.BS Đặng Vũ Hỷ. Ảnh: TL.
Vị ân nhân của người bệnh phong
Bệnh phong là bệnh nhiễm trùng mạn tính do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra, chủ yếu tổn thương da, dây thần kinh ngoại biên, mắt và niêm mạc đường hô hấp. Những năm đầu sau khi miền Bắc được giải phóng, hệ thống y tế còn non trẻ, trong khi bệnh phong vẫn bị xem là một trong "tứ chứng nan y".
Thời điểm đó, chưa có thuốc rifampycin, các tổn thương do bệnh phong rất nặng nề, phẫu thuật phục hồi chức năng chưa phát triển, khiến nhiều người bệnh mang dị tật suốt đời và bị xã hội kỳ thị. Chỉ một số ít bệnh nhân nặng được điều trị tập trung tại các trại phong, còn hàng nghìn người phải sống lang thang, xin ăn.
Không ngại nguy cơ lây nhiễm, không hề xa lánh người bệnh, GS. Đặng Vũ Hỷ đã đến hầu khắp các trại phong ở miền Bắc như Quỳnh Lập, Văn Môn, Quả Cảm, Phú Bình, Sông Mã để trực tiếp thăm khám, điều trị và động viên bệnh nhân. Ông dành cho họ sự cảm thông sâu sắc, luôn tìm mọi cách xoa dịu cả nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.
Dưới sự chỉ đạo của GS. Đặng Vũ Hỷ, chỉ trong vài năm, hơn 2.000 bệnh nhân phong đã được chữa khỏi. Các khu điều trị Quỳnh Lập, Văn Môn, Quả Cảm, Phú Bình và Sông Mã được củng cố, thường xuyên điều trị cho khoảng 4.150 bệnh nhân với đội ngũ gồm 18 bác sĩ, 112 y sĩ cùng 116 y tá và kỹ thuật viên xét nghiệm. Đồng thời, Nhà nước quản lý và điều trị tại cộng đồng cho khoảng 43.700 bệnh nhân bằng thuốc DDS kết hợp tiêm BCG.
Công tác phòng chống bệnh phong được gắn chặt với mạng lưới y tế cơ sở. Trong các khu điều trị nội trú, hợp tác xã nông nghiệp và thủ công nghiệp được thành lập, tạo việc làm để người bệnh vừa điều trị vừa lao động. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cũng được tổ chức nhằm nâng cao đời sống tinh thần, giúp người bệnh xóa bỏ mặc cảm, từng bước hòa nhập cộng đồng.
Nhiều phác đồ điều trị bằng DDS, Rimifon kết hợp Subtilis cho kết quả khả quan. Việc phát hiện sớm, điều trị, theo dõi và quản lý bệnh nhân từ nội trú đến ngoại trú đã góp phần giảm dần tỷ lệ mắc bệnh, tiến tới thanh toán bệnh phong tại nhiều địa phương.
Song song với điều trị, ngành y tế đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rằng bệnh phong có thể chữa khỏi. Những bệnh nhân còn khả năng lây được điều trị tập trung, trong khi phần lớn người bệnh được khám định kỳ, nhận thuốc hằng tuần và chăm sóc tại nhà bởi cán bộ y tế cơ sở. Nhờ đó, người bệnh yên tâm điều trị, gia đình và cộng đồng dần xóa bỏ sự kỳ thị, mặc cảm vốn đè nặng lên người mắc bệnh phong suốt nhiều năm.
Học tập tấm gương nghiên cứu khoa học và hết lòng vì người bệnh của người thầy Đặng Vũ Hỷ, bác sĩ Trần Hữu Ngoạn cũng đã tình nguyện tiêm trực khuẩn Hansen (trực khuẩn phong) vào người mình để chứng minh bệnh phong không phải dễ lây và có thể chữa khỏi. Nhờ vậy, ở Trại phong Quy Hòa đã giải quyết về cơ bản tình trạng xa lánh, hắt hủi người bệnh và đã nâng cao được niềm tin của họ về hiệu quả điều trị, đảm bảo sự hội nhập của bệnh nhân phong vào xã hội bên ngoài.
“Sở dĩ tôi chọn ngành này là do thầy Hỷ đã khuyên tôi. Thầy nói: Trong xã hội ta, còn rất nhiều thành kiến, sai lầm, phi khoa học đối với người mắc bệnh phong. Anh còn trẻ, anh hãy giúp tôi xóa bỏ những thành kiến đó và cứu chữa người bệnh”, BS Ngoạn chia sẻ.
Với những cống hiến to lớn cho công tác phòng chống bệnh phong, GS Đặng Vũ Hỷ được người bệnh trân trọng như một vị ân nhân. Để ghi nhớ tấm lòng nhân ái và những đóng góp của ông, Trại phong Quy Hòa (nay là Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa) đã dựng tượng ông với dòng chữ: "Cuộc đời tận tụy vì người bệnh, y đức trong sáng của GS Đặng Vũ Hỷ đã để lại những nét sâu đậm trong lòng người mắc bệnh phong và những thầy thuốc chuyên khoa”.
Tự mình làm “thí nghiệm” để nghiên cứu chữa bệnh
Các công trình của GS Đặng Vũ Hỷ luôn có tính thực tiễn cao. Ông cũng là người sẵn sàng “xả thân” vì khoa học, tự đưa chính mình làm “thí nghiệm”. GS Phạm Song, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, người học trò của GS Đặng Vũ Hỷ chia sẻ “Thầy Hỷ có nhiều công trình khoa học nhưng tôi tâm đắc về công trình chống sán vịt vì chính ông đã lội xuống những cánh đồng trồng cói ngập nước vùng ven biển cho ấu trùng cắn vào chân để nghiên cứu”. Sán vịt là bệnh viêm da do ấu trùng hay gọi nôm na là bệnh da do sán vịt.
Từ thực tiễn đó, GS Hỷ đã phát hiện ra một loại dầu để bôi vào chân trước khi lội xuống nước để phòng bệnh rất hiệu quả. Công nhân an tâm làm việc, một bài học lớn về hiệu quả thiết thực đầu ra của mọi công trình khoa học lâm sàng và tự mình tình nguyện là bệnh nhân đầu tiên để nghiên cứu phương thức phòng chống.
Vùng chiêm trũng Thư Điền, nơi đi lại chủ yếu phải lội nước mà đỉa rất nhiều. Trước tình hình đó, BS Đặng Vũ Hỷ đã dùng một số thuốc thông thường để chế biến thành loại thuốc bôi chân chống đỉa bám, giá rẻ và dễ kiếm. Để tạo niềm tin, ông trực tiếp thử nghiệm trước bà con trong làng: cho hai chân xuống nước có nhiều đỉa, một chân bôi thuốc và một chân không bôi. Kết quả cho thấy chân không bôi thuốc bị đỉa bám đầy, trong khi chân có bôi thuốc không có con đỉa nào. Chứng kiến tận mắt, người dân rất tin tưởng và phấn khởi sử dụng.
GS Phạm Song cho rằng, những gì mà GS Đặng Vũ Hỷ làm cũng có thể thấy ở các nhà khoa học như Phạm Ngọc Thạch và Đặng Văn Ngữ. Những nhân cách khoa học trưởng thành từ thời chiến tranh và bao cấp, phần lớn đều mang phong cách nhân văn, gắn bó sâu sắc với khoa học và bệnh nhân. Nhìn lại có thể thấy, đất nước ta có nhiều nhân cách khoa học lớn, giàu tinh thần dấn thân, yêu khoa học, yêu công việc và luôn tôn trọng người bệnh.
“GS Đặng Vũ Hỷ là một người thầy thuốc có tấm lòng cộng sản chân chính pha trộn Phật tính và tính nhân ái của Chúa Giêsu”, GS Song đánh giá.
GS Đặng Vũ Hỷ sinh ngày 17/3/1910 xuất thân trong một gia đình Nho học có truyền thống khoa bảng tại Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định. Ông theo học Trường Đại học Y Đông Dương (nay là Trường Đại học Y Hà Nội), sau đó sang Pháp tu nghiệp và tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa da liễu tại Paris năm 1937.
Sau khi về nước, ông từng làm việc tại Bệnh viện mỏ Đông Triều, sau đó mở phòng mạch tại Hà Nội. Ông kết hôn với bà Phạm Thị Thứ là tiểu thư đài các, đoan trang của quan Thượng thư, Học giả Phạm Quỳnh, Chủ bút tạp chí Nam Phong rất nổi tiếng lúc bấy giờ. Gia cảnh, gia thế ấy đã đưa GS Đặng Vũ Hỷ trở thành bậc danh giá và giàu có vào loại nhất nhì ở Hà Nội lúc ấy.
Tuy nhiên, ngay sau Cách mạng tháng Tám, với tấm lòng yêu nước, ông đã từ bỏ hết giàu sang phú quý để dấn thân phục vụ Nhân dân và đất nước. Năm 1955, sau khi hòa bình lập lại, ông là một 12 người đầu tiên của nước ta được phong học hàm Giáo sư. Năm 1996 ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và kỹ thuật cũng đợt đầu tiên.
Ông là một trong số ít thầy thuốc Việt Nam được vinh danh trong Từ điển “Danh nhân Y học thế giới”.
GS.BS Đặng Vũ Hỷ có 2 người con, cả hai đều trở thành các nhà khoa học xuất sắc. Con trai ông là GS.TSKH Đặng Vũ Minh, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Con gái ông cũng là một nhà khoa học nổi tiếng, GS.TS.NGND Đặng Kim Chi, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội).











