Vì sao không khí tại TP.HCM ngày càng suy giảm chất lượng?
Trong nhiều ngày qua, chất lượng không khí ở TP.HCM luôn ở mức 'xấu' và 'rất xấu. Đây không chỉ là câu chuyện môi trường, mà còn gắn chặt với chất lượng sống và sức khỏe lâu dài của hàng triệu người dân đô thị.
Theo các chuyên gia, chất lượng không khí tại TP.HCM đang đứng trước nhiều thách thức khi các nguồn phát thải từ giao thông, hoạt động xây dựng, công nghệ xử lý rác thải chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và một số yếu tố khác.
Nhiều ngày gần đây, từ sáng sớm đến trưa, bầu trời TP.HCM luôn chìm trong lớp mây dày, trời âm u, không có nắng, nhiều khu vực xuất hiện sương mù kèm bụi mịn. Theo dữ liệu từ ứng dụng Air Visual (hệ thống giám sát chất lượng không khí theo thời gian thật, thuộc tổ chức IQAir - Thụy Sỹ), chất lượng không khí tại TP.HCM liên tục ở mức đỏ. Điều này cho thấy, chất lượng không khí ở TP.HCM đang ở mức xấu, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.

Ảnh minh họa: Thanh niên
Thạc sỹ Lê Thị Xuân Lan, chuyên gia về khí tượng cho rằng, những ngày qua TP.HCM có độ ẩm không khí cao khiến những chất lơ lửng bay trong không khí (hay còn gọi là hạt bụi mịn) ngưng kết tạo thành màn sương mờ đục. Lớp sương mù dày đặc cho thấy trong không khí có tồn tại bụi, chất lơ lửng nhiều, việc này sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe: “Thông thường vào cuối năm, mức độ ô nhiễm càng ngày càng tăng, lại thêm không khí khá khô cho nên bụi mịn nó cứ tồn tại hết ngày này qua ngày khác thì nó dồn lên, thành ra càng ngày càng tăng. Với kiểu thời tiết buổi sáng trời se se lạnh, nhưng buổi trưa có đôi lúc nhiệt độ tương đối cao, chính vì vậy biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cũng còn khá là lớn, nên rất dễ bị bệnh. Đặc biệt là đối với những người có sức đề kháng kém như trẻ em hoặc người lớn tuổi thì càng nên cẩn thận".
Báo cáo thực hiện Chương trình quan trắc chất lượng môi trường, tài nguyên nước và giám sát nguồn thải năm 2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường mới đây cho thấy, chất lượng không khí TP.HCM có dấu hiệu suy giảm so với các năm trước, chủ yếu do ô nhiễm bụi mịn và tiếng ồn. Kết quả quan trắc cũng cho thấy nồng độ bụi TSP (tổng hạt bụi lơ lửng) và PM10 có xu hướng tăng, chủ yếu xuất hiện ở các trục giao thông lớn, khu công nghiệp, cảng biển và nơi tập kết vật liệu xây dựng. Đáng chú ý, bụi PM2.5 cao gấp nhiều lần so với ngưỡng khuyến cáo trung bình năm của Tổ chức Y tế Thế giới.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiếu, chuyên gia đô thị trường đại học Việt Đức có nhiều nguyên nhân khiến chất lượng không khí TP.HCM xuất hiện xu hướng suy giảm. Trong đó, có các nguồn phát thải từ giao thông. TP.HCM hiện có hơn 12 triệu ô tô và xe máy cá nhân. Các phương tiện dùng xăng dầu không chỉ gây tiếng ồn mà còn phát thải bụi mịn, benzen và nhiều khí độc. Cùng với đó, thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển hạ tầng mạnh mẽ với hàng loạt dự án giao thông, khu đô thị và khu công nghiệp triển khai cùng lúc.

Mật độ giao thông dày đặc là nguyên nhân lớn gây ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn tại TP.HCM. Ảnh Người lao động
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiếu cho rằng, ô nhiễm do khói bụi, xe tập kết vật liệu, vận chuyển… là nguyên nhân rất lớn bên cạnh nguyên nhân công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt, giao thông, xử lý rác thải…: “Xét riêng về giao thông, vấn đề ô nhiễm tăng lên chủ yếu là do chuyển sang đi ô tô do phải đi xa. Từ tháng 5 đến nay, TP.HCM mở rộng, doanh nghiệp từ Bình Dương, Vũng Tàu phải lên TP.HCM làm việc, hệ sinh thái hành chính di chuyển về trung tâm thì doanh nghiệp phải đi theo, chúng ta phải di chuyển xa nhiều hơn, nhu cầu di chuyển tăng lên thì phát thải cũng tăng lên.
Thứ hai, TP.HCM là đầu mối trung chuyển sản xuất và hàng nhập phân phối cho các đô thị trong khu vực phía Nam. Mỗi ngày trên 30.000 container nhu cầu về vận tải hàng hóa rất lớn. Nguồn phát thải rất nhiều, dầu nặng của tàu biển, dầu diesel của xe container, xăng của xe máy, ô tô…”
Tiến sĩ Hiếu cũng đưa ra giải pháp cải thiện chất lượng môi trường không khí TP.HCM, bao gồm: cần xây dựng những vùng phát thải thấp, hạn chế xe tải hoặc những phương tiện ô nhiễm cao theo giờ, theo khu vực, theo loại xe. Ngoài ra, cần chuyển đổi phương thức và hành vi đi lại, thông qua việc sử dụng phương tiện khác nhau, có mức phát thải thấp hơn.
Thay vì đi xe máy thì đi xe đạp, hoặc chuyển sang sử dụng phương tiện công cộng. Trước hết, nên tập trung vào nhóm có nhu cầu đi lại nhiều: kinh doanh vận tải, hàng hóa, hành khách, bao gồm cả xe taxi, xe ôm, xe máy: “Tuy nhiên cần chú ý rằng, việc chuyển đổi sang các phương tiện thì có nhiều lựa chọn trong đó có chuyển đổi phương tiện từ động cơ đốt trong sang phương tiện xe điện, phương tiện xe Hybrid hoặc phương tiện phát thải thấp hơn, chuyển đổi xe máy, ô tô sang xe điện. Và việc chuyển đổi như vậy cần đi kèm việc xây dựng hạ tầng giao thông có xe điện, các phương tiện phi cơ giới khác, giao thông công cộng".
Đồng quan điểm, tiến sĩ Nguyễn Tri Quang Hưng, giảng viên Khoa Môi trường & Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM cho rằng, hiện nay, nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là khu công nghiệp, nhưng do nằm xa khu dân cư nên ít được chú ý. Trong khi đó, giao thông và xây dựng lại tạo cảm giác “ô nhiễm nhất”: “Ô nhiễm không khí có 2 trạng thái, một là bụi, hai là khí. Có nhiều thống kê cho thấy, nguồn lớn nhất là từ xây dựng và nguồn công nghiệp- xả thải ô nhiễm thường xuyên và ra nhiều nhất. Nhưng công nghiệp thường thì nó nằm trong khu công nghiệp, xa người dân nên người dân thường ít thấy hơn bằng xây dựng và giao thông. Giao thông là cái thứ mà người người tiếp xúc hàng ngày, ra đường là phải dùng giao thông, chính mình xả thải và chính mình hít lại".
Về dài hạn, để kiểm soát ô nhiễm, tiến sỹ Hưng cho biết, cần quản lý khí thải từ các khu công nghiệp, quản lý mật độ xây dựng, mật độ dân số và lưu lượng giao thông. Khi quy hoạch, phải xem giao thông là trục chính, kiến trúc phải phục vụ luồng gió và dòng người. Ngành quy hoạch kiến trúc và xây dựng phải phối hợp nhịp nhàng để điều tiết giao thông. Chỉ khi 2 yếu tố này vận hành cùng nhau, thành phố mới có thể “dễ thở” hơn: “Giải pháp của con người là việc chúng ta hiện tại đang chuyển đổi về phương tiện giao thông xanh. Tàu điện cũng là một giải pháp, tại vì tàu điện chở nhiều người và chỉ dùng nguồn điện cho nên không phát thải. Nói chung lại, việc đầu tiên là thành phố phải chỉnh lại trong việc xây dựng, quy hoạch xây dựng, thiết kế kế lại. Thành phố phải đóng vai trò trong việc điều tiết, việc xây dựng và trong quá trình điều tiết xây dựng đó, nó đi kèm luôn điều tiết mật độ lưu lượng giao thông.
Và sau đó là loại phương tiện, bây giờ mình đang chuyển đổi dần dần đó là khuyến khích cho người dân sử dụng phương tiện xanh, nhưng mà nó phải đi kèm với chiến lược quốc gia. Bởi vì anh khuyến khích người dân mà chạy xe điện là người ta phải bỏ xe cũ".
Có thể thấy, kiểm soát ô nhiễm không khí không chỉ là câu chuyện môi trường mà là câu chuyện của quy hoạch, kinh tế quốc gia, chiến lược phát triển doanh nghiệp và của chính chúng ta. Bài toán không khí đô thị không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn gắn trực tiếp với chất lượng sống và sức khỏe lâu dài của hàng triệu người dân thành phố. Việc hành động sớm và quyết liệt sẽ quyết định diện mạo môi trường đô thị trong những năm tới.
Bao giờ được…thở sạch?
Những ngày gần đây, nếu phải có việc ra đường vào buổi sáng sớm, hẳn bất kỳ ai ở TP.HCM cũng dễ dàng nhận thấy bầu trời mờ đục khiến tầm nhìn hạn chế, nhiều công trình cao tầng bị che khuất bởi lớp sương mù dày đặc. Đó không phải là kiểu thời tiết cuối năm điển hình mà là kết quả của tình trạng đô thị hóa nhanh, làm gia tăng tình trạng ô nhiễm không khí với nguồn phát thải chính từ hoạt động giao thông, xây dựng, hoạt động công nghiệp và biến đổi khí hậu.

Ảnh minh họa
Ô nhiễm không khí không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn là tác nhân gây ra nhiều chứng bệnh về hô hấp, tim mạch, đặc biệt nguy hiểm cho trẻ em và người già. Thống kê chưa chính thức cho thấy tại Hà Nội và TP.HCM mỗi năm có khoảng 3.000 người qua đời vì bụi mịn các loại khí thải gây ô nhiễm môi trường.
Dù TP.HCM đã triển khai không ít giải pháp để hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí song kết quả vẫn còn khá khiêm tốn nếu không muốn nói là chưa tạo ra được sự khác biệt nào. Các chuyên gia đã cho rằng, nếu tình trạng này kéo dài sẽ khiến chi phí y tế của người dân tăng mạnh, kéo theo tổn thất kinh tế, xã hội gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của địa phương nói riêng, đất nước nói chung.
Nhiều quốc gia đã có những bước đi mạnh mẽ để cải thiện chất lượng không khí mà chúng ta hoàn toàn có thể học tập. Đó là Trung Quốc với việc ban hành tiêu chuẩn chất lượng không khí nghiêm ngặt, đồng thời đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo và xe điện. Hay là Đạo luật Không khí sạch của Hoa Kỳ yêu cầu kiểm soát khí thải từ xe cộ và nhà máy đã giúp nhiều thành phố lớn như Los Angeles giảm đáng kể tình trạng khói mù. Hoặc gần hơn là Singapore với việc này áp dụng hệ thống giám sát chất lượng không khí theo thời gian thực, đồng thời khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng và xe điện.
Từ các bài học kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quá trình cải thiện chất lượng không khí không thể là một giải pháp đơn lẻ. Do đó, TP.HCM thay vì chỉ dừng lại ở việc đo đạc và cảnh báo thì cần triển khai một chiến lược hành động quyết liệt, đồng bộ, tập trung vào việc kiểm soát nguồn thải và tăng cường khả năng tự làm sạch của đô thị.
Ô nhiễm không khí tại TP.HCM không còn là cảnh báo xa vời mà đã hiện hữu trong từng hơi thở của người dân. Đây không đơn thuần chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là bài toán về sức khỏe người dân và tương lai của đô thị. Và vì thế cần được quan tâm xử lý ngay thay vì chần chừ, nấn ná.













