Vì sao não mô cầu có thể bùng phát thành ổ dịch dù ít gặp?

Vi khuẩn não mô cầu có thể âm thầm lưu hành trong cộng đồng, lây truyền qua tiếp xúc gần và gây bệnh diễn tiến nhanh, đe dọa tính mạng.

 Một bệnh nhi được cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1. Ảnh minh họa: Duy Hiệu.

Một bệnh nhi được cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1. Ảnh minh họa: Duy Hiệu.

Ổ dịch do não mô cầu xuất hiện tại một trường học ở TP.HCM gần đây khiến nhiều người lo ngại về nguy cơ lây nhiễm trong môi trường tập trung đông người. Dù số ca mắc bệnh do vi khuẩn Neisseria meningitidis thường thấp hơn nhiều bệnh truyền nhiễm phổ biến như cúm, sởi hay sốt xuất huyết, não mô cầu vẫn là tác nhân nguy hiểm bởi khả năng lây truyền âm thầm và diễn tiến bệnh nhanh chóng.

Theo TS.BS Lê Kiến Ngãi, Trưởng khoa Dự phòng và Kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Nhi Trung ương, đặc điểm của vi khuẩn, điều kiện sinh hoạt tập trung và mức độ miễn dịch của cộng đồng là những yếu tố quan trọng giúp lý giải nguy cơ xuất hiện các ổ dịch.

Người lành mang trùng, nguồn lây khó nhận biết

Một trong những đặc điểm khiến não mô cầu khó kiểm soát là hiện tượng người lành mang trùng. Vi khuẩn Neisseria meningitidis có thể cư trú ở vùng mũi họng của người khỏe mạnh mà không gây triệu chứng.

Theo các số liệu dịch tễ được đề cập, khoảng 5-10% dân số có thể mang vi khuẩn trong vùng hầu họng tại một thời điểm. Tỷ lệ này có thể cao hơn ở một số nhóm thanh thiếu niên và trong những điều kiện sinh hoạt nhất định.

Những người mang vi khuẩn nhưng không có biểu hiện bệnh vẫn có khả năng truyền vi khuẩn cho người khác. Vì không xuất hiện triệu chứng rõ ràng, họ khó nhận biết tình trạng mang trùng nếu không được xét nghiệm.

"Vi khuẩn chủ yếu lây qua dịch tiết đường hô hấp khi tiếp xúc gần, kéo dài với người mang vi khuẩn hoặc người mắc bệnh. Sau khi xâm nhập qua niêm mạc mũi họng, vi khuẩn có thể vượt qua hàng rào bảo vệ của cơ thể, đi vào máu và gây nhiễm khuẩn huyết hoặc xâm nhập hệ thần kinh trung ương, gây viêm màng não", bác sĩ Ngãi cho hay.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp mang vi khuẩn đều tiến triển thành bệnh. Nguy cơ mắc bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có đặc điểm của chủng vi khuẩn và khả năng bảo vệ của hệ miễn dịch.

 Trẻ mắc bệnh hô hấp biến chứng nặng được điều trị ở Bệnh viện Nhi đồng 2. Ảnh: Nguyễn Thuận.

Trẻ mắc bệnh hô hấp biến chứng nặng được điều trị ở Bệnh viện Nhi đồng 2. Ảnh: Nguyễn Thuận.

Theo vị chuyên gia, chính sự tồn tại âm thầm của vi khuẩn trong cộng đồng khiến việc phát hiện và kiểm soát nguồn lây trở nên khó khăn, nhất là khi những người mang trùng sinh hoạt cùng người khác trong thời gian dài.

Vì sao trường học có thể trở thành nơi bùng phát ổ dịch?

TS.BS Lê Kiến Ngãi, cho hay môi trường học đường có nhiều điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lây truyền, đặc biệt khi học sinh thường xuyên tiếp xúc gần trong lớp học, khu nội trú, nhà ăn hoặc các không gian sinh hoạt chung.

Thứ nhất, mật độ tiếp xúc cao khiến vi khuẩn dễ lan truyền qua dịch tiết đường hô hấp. Việc học tập, trò chuyện trong khoảng cách gần và sinh hoạt chung kéo dài làm tăng cơ hội tiếp xúc với người mang vi khuẩn.

Thứ hai, những thói quen như dùng chung cốc uống nước hoặc vật dụng cá nhân có thể làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với dịch tiết. Dù vậy, não mô cầu không được xem là tác nhân chủ yếu lây qua các bề mặt thông thường; tiếp xúc gần với dịch tiết đường hô hấp mới là yếu tố cần đặc biệt lưu ý.

Thứ ba, khả năng bảo vệ miễn dịch trước các nhóm huyết thanh của não mô cầu không giống nhau ở tất cả chúng ta. Khi vi khuẩn lưu hành trong một tập thể có nhiều người chưa có miễn dịch phù hợp, nguy cơ xuất hiện các ca bệnh có thể tăng lên.

Theo bác sĩ Lê Kiến Ngãi, những yếu tố này góp phần lý giải vì sao một bệnh không thường xuyên được ghi nhận vẫn có thể gây ra ổ dịch trong môi trường tập trung đông người.

Tuy nhiên, việc xuất hiện nhiều ca bệnh trong cùng một địa điểm không đồng nghĩa mọi người trong môi trường đó đều có nguy cơ như nhau. Đánh giá nguy cơ cần dựa trên điều tra dịch tễ, mức độ tiếp xúc và kết quả xác định tác nhân gây bệnh.

Điều khiến não mô cầu được đặc biệt quan tâm không chỉ là khả năng lây truyền mà còn là mức độ nghiêm trọng của bệnh khi vi khuẩn gây nhiễm trùng xâm lấn.

Người bệnh ban đầu có thể xuất hiện những triệu chứng không đặc hiệu như sốt, đau đầu, mệt mỏi hoặc đau họng. Trong một số trường hợp, bệnh nhanh chóng tiến triển thành viêm màng não hoặc nhiễm khuẩn huyết, gây sốc và suy đa cơ quan.

Bệnh có thể trở nặng chỉ trong vài giờ. Vì vậy, người bệnh cần được phát hiện và điều trị khẩn cấp khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ, thay vì chờ triệu chứng tự thuyên giảm.

Ngay cả khi được điều trị bằng kháng sinh và hồi sức tích cực, bệnh do não mô cầu xâm lấn vẫn có nguy cơ đe dọa tính mạng đáng kể. Các số liệu dịch tễ thường được trích dẫn cho thấy tỷ lệ không qua khỏi có thể vào khoảng 10-15%, tùy quần thể nghiên cứu, thể bệnh và khả năng tiếp cận điều trị.

Những người sống sót cũng có thể phải đối mặt với các di chứng lâu dài. Khoảng 10-20% người sống sót sau bệnh não mô cầu có thể gặp di chứng, bao gồm giảm thính lực hoặc điếc, tổn thương thần kinh, động kinh, tổn thương thận hoặc hoại tử mô nghiêm trọng dẫn đến phải cắt cụt chi.

 Khoảng 10-20% người bệnh sống sót phải chịu đựng các di chứng vĩnh viễn do bệnh viêm não mô cầu. Ảnh: BVCC.

Khoảng 10-20% người bệnh sống sót phải chịu đựng các di chứng vĩnh viễn do bệnh viêm não mô cầu. Ảnh: BVCC.

Mức độ nguy hiểm này khiến não mô cầu trở thành bệnh cần được giám sát và xử trí kịp thời, dù số ca mắc không lớn so với nhiều bệnh truyền nhiễm khác.

Khoảng trống miễn dịch làm tăng nguy cơ mắc bệnh

Một yếu tố khác cần lưu ý là khả năng bảo vệ của vaccine trước các nhóm huyết thanh não mô cầu.

Vi khuẩn não mô cầu có nhiều nhóm huyết thanh, trong đó A, B, C, W và Y là những nhóm có ý nghĩa quan trọng trong các trường hợp bệnh xâm lấn. Các vaccine hiện có không phải lúc nào cũng bảo vệ đồng thời tất cả nhóm này.

Vaccine não mô cầu nhóm B và vaccine phối hợp ACWY có phạm vi bảo vệ khác nhau. Vì vậy, việc đã tiêm một loại vaccine không đồng nghĩa người tiêm được bảo vệ trước mọi nhóm huyết thanh gây bệnh.

Bên cạnh đó, vaccine phòng não mô cầu chưa được triển khai bao phủ toàn dân theo cách tương tự nhiều vaccine trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Do đó, khả năng tiếp cận vaccine và tình trạng tiêm chủng có thể khác nhau giữa các cá nhân, nhóm tuổi và địa phương.

Theo bác sĩ Lê Kiến Ngãi, chủ động tiêm phòng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh. Người dân nên trao đổi với bác sĩ hoặc cơ sở tiêm chủng để lựa chọn vaccine phù hợp với độ tuổi, tiền sử tiêm chủng và khuyến cáo hiện hành.

Việc tiêm vaccine cần được thực hiện theo lịch của từng loại vaccine và hướng dẫn chuyên môn, thay vì mặc định tất cả trẻ đều có thể sử dụng một lịch tiêm chung. Vaccine giúp giảm nguy cơ mắc bệnh nhưng không thay thế các biện pháp phòng ngừa khác.

Phương Anh

Nguồn Znews: https://znews.vn/vi-sao-nao-mo-cau-co-the-bung-phat-thanh-o-dich-du-it-gap-post1692096.html