Vì sao số lượng doanh nghiệp KH-CN vẫn còn khiêm tốn?

Chuyên gia cho rằng số lượng các doanh nghiệp khoa học – công nghệ (KH-CN) còn khiêm tốn xuất phát từ cả yếu tố pháp lý lẫn yếu tố thị trường.

Thuật ngữ “doanh nghiệp khoa học công nghệ” đã ra đời gần 20 năm, bắt đầu từ Nghị định 80 năm 2007 của Chính phủ và đang tăng nhanh.

Đặc biệt, với hàng loạt các Nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết 57 về đột phá phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp KH-CN đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có.

Dù vậy, trên thực tế, số lượng doanh nghiệp KH-CN tại Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn. So với khoảng 900.000 doanh nghiệp hiện tại của Việt Nam, con số chưa tới 1.000 doanh nghiệp KHCN là rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS cho biết mặc dù chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp KH-CN đã được quy định từ Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, song trên thực tế số lượng doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH-CN vẫn còn tương đối khiêm tốn.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS

Theo ông Tuấn, nguyên nhân xuất phát từ cả yếu tố pháp lý lẫn yếu tố thị trường.

Trước hết, điều kiện để được công nhận doanh nghiệp KH-CN không chỉ dừng ở việc có hoạt động nghiên cứu hay ứng dụng công nghệ, mà còn phải chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp kết quả khoa học và công nghệ, đồng thời đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ theo quy định pháp luật.

“Đối với nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, cũng như chứng minh tỷ lệ doanh thu đạt ngưỡng theo quy định là một thách thức không nhỏ”, ông Tuấn nói.

Thứ hai, đặc thù của hoạt động nghiên cứu – phát triển là rủi ro cao, thời gian thương mại hóa dài và khả năng thành công không chắc chắn. Nhiều doanh nghiệp công nghệ trong giai đoạn đầu chưa tạo ra doanh thu ổn định từ sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ, trong khi điều kiện công nhận lại gắn với tiêu chí doanh thu. Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp có năng lực công nghệ thực chất nhưng chưa đủ điều kiện pháp lý để được công nhận và hưởng ưu đãi.

Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp còn e ngại về nghĩa vụ duy trì điều kiện sau khi được cấp Giấy chứng nhận. Theo quy định, doanh nghiệp phải bảo đảm tiếp tục đáp ứng tiêu chí về tỷ lệ doanh thu và có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận nếu không còn đủ điều kiện. Trong bối cảnh thị trường biến động, việc cam kết duy trì các chỉ tiêu này tạo ra áp lực pháp lý nhất định, khiến một số doanh nghiệp lựa chọn không đăng ký để tránh rủi ro bị kiểm tra, thanh tra hoặc truy thu ưu đãi.

Ngoài ra, luật sư Tuấn cũng nêu rằng nhận thức và thông tin về chính sách cũng là một yếu tố đáng lưu ý. Không phải tất cả doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ đều nắm rõ quy trình, thủ tục và lợi ích cụ thể của việc trở thành doanh nghiệp KH-CN. Ở một số địa phương, công tác hướng dẫn, hỗ trợ còn chưa thực sự chủ động, dẫn đến khoảng cách giữa chính sách trên giấy và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp.

Số lượng doanh nghiệp KH-CN vẫn khiêm tốn

Số lượng doanh nghiệp KH-CN vẫn khiêm tốn

Theo ông Tuấn, từ góc độ tổng thể, có thể thấy rằng chính sách ưu đãi đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng để gia tăng số lượng doanh nghiệp được công nhận, cần tiếp tục rà soát theo hướng đơn giản hóa thủ tục, điều chỉnh tiêu chí theo hướng phù hợp hơn với vòng đời phát triển của doanh nghiệp công nghệ, đồng thời tăng cường cơ chế tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

“Khi các rào cản về thủ tục và tâm lý được tháo gỡ, chính sách ưu đãi mới có thể phát huy hiệu quả rộng rãi hơn trong thực tiễn”, ông Tuấn nói.

Trong một hội thảo gần đây, TS Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH-CN cũng cho rằng nguyên nhân chính nằm ở việc các doanh nghiệp chưa cảm thấy được hưởng lợi thực sự từ các chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuế, đất đai và tín dụng; thủ tục hành chính vẫn là một rào cản lớn.

“Đối với các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), khó khăn lớn nhất chính là nguồn vốn. Tài sản lớn nhất của họ là trí tuệ, trong khi tài sản thế chấp bằng tiền hay bất động sản gần như không có, khiến việc tiếp cận tín dụng truyền thống trở nên bất khả thi”, ông Quân nêu.

Để giải quyết những nút thắt này, ông Nguyễn Quân cho rằng giảm thiểu tối đa các thủ tục, tháo gỡ rào cản để doanh nghiệp dễ dàng xác nhận kết quả nghiên cứu và văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ làm cơ sở cấp giấy chứng nhận. Các Bộ KH-CN, Bộ Tài chính cần ban hành văn bản hướng dẫn thông thoáng, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính dành cho nghiên cứu ứng dụng…

“Sự đồng hành giữa chính sách minh bạch, sự hỗ trợ tài chính chấp nhận rủi ro và khát vọng của doanh nghiệp sẽ là “kiềng ba chân” vững chắc để đưa hệ sinh thái doanh nghiệp KH-CN Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả trong tương lai”, ông Quân nói.

Lam Thanh

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/vi-sao-so-luong-doanh-nghiep-kh-cn-van-con-khiem-ton-246646.html