Vì sao 'sợ trách nhiệm' trở thành điểm nghẽn cần tháo gỡ?
Khi tâm lý “không làm thì không sai” xuất hiện trong quá trình xử lý công việc, hệ quả không chỉ là một hồ sơ chậm mà có thể là những cơ hội phát triển bị bỏ lỡ.

Tâm lý né tránh trách nhiệm có thể kéo dài thời gian xử lý và làm lỡ cơ hội.
Một chữ ký chậm, cơ hội nghìn tỷ có thể bị bỏ lỡ
Trong thu hút đầu tư, thời gian đôi khi được tính bằng tiền. Một dự án công nghiệp không chỉ cần mặt bằng. Sau khi có đất, nhà đầu tư còn phải bỏ vốn xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc, hoàn thiện các điều kiện để đưa nhà máy vào hoạt động. Vì vậy, mỗi ngày dự án chưa thể triển khai đều có thể khiến doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí, trong khi dòng vốn chưa được đưa vào sản xuất.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông N.V.K., Tổng Giám đốc một doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cho rằng tác động của việc chậm trễ trong giải quyết thủ tục không chỉ nằm ở vài ngày chờ đợi trên giấy tờ. Với doanh nghiệp, mỗi ngày dự án phải chờ có thể kéo theo chi phí tài chính, ảnh hưởng tiến độ và thậm chí làm mất cơ hội đầu tư.
Theo ông K., hiện chi phí đầu tư hạ tầng có thể lên tới hơn 10 tỷ đồng/ha. Với một dự án quy mô lớn, tổng vốn có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Trong điều kiện lãi suất hiện nay, chỉ cần dự án chậm một ngày, doanh nghiệp đã phải gánh thêm một khoản chi phí đáng kể; kéo dài cả tháng, con số này có thể lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí cao hơn tùy quy mô vốn.
“Ví dụ đầu tư khoảng 15 tỷ đồng/ha, chỉ riêng một tháng chậm tiến độ đã có thể mất gần 200 triệu đồng tiền lãi. Nhưng điều đáng nói hơn là số tiền đó chỉ là chi phí trực tiếp của doanh nghiệp”, ông K. phân tích.
Theo vị lãnh đạo doanh nghiệp, phía sau một diện tích đất công nghiệp được đưa vào khai thác còn là cả chuỗi đầu tư tiếp theo. Ông K. tính toán, nếu 15 tỷ đồng vốn hạ tầng có thể tạo điều kiện thu hút một dự án khoảng 100 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp tiếp tục bỏ khoảng 80 tỷ đồng xây dựng nhà máy và các khoản đầu tư khác, thì việc dự án không thể triển khai đúng thời điểm đồng nghĩa với một lượng vốn lớn chưa thể đi vào nền kinh tế.
“Cái mất lớn nhất không phải chỉ là vài trăm triệu đồng tiền lãi. Nếu khách hàng không thể chờ, họ có thể chuyển sang địa phương khác. Khi đó, cơ hội thu hút một dự án trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng cũng mất theo. Thiệt hại ấy rất khó tính hết bằng một con số”, ông K. nói.
Vị tổng giám đốc cho rằng, trong quá trình xử lý công việc, việc tuân thủ quy định là cần thiết, nhưng nếu cán bộ chỉ tập trung vào việc làm sao để “đúng quy trình” mà không nhìn tới mục tiêu cuối cùng của chính sách, thủ tục có thể trở thành điểm nghẽn đối với doanh nghiệp.
Có những quy định được xây dựng từ nhiều năm trước, trong khi môi trường đầu tư và yêu cầu thực tế đã thay đổi. Do đó, theo ông K., điều cần thiết là cán bộ thực thi phải có tinh thần chủ động, dám xem xét vấn đề từ thực tiễn, đồng thời cấp có thẩm quyền phải tạo điều kiện để những người dám nghĩ, dám làm có cơ sở đưa ra quyết định.
“Mỗi ngày chậm trễ đều có thể khiến doanh nghiệp mất thêm chi phí và cả cơ hội đầu tư”, ông K. nói.
Từ thực tế này, đại diện doanh nghiệp này cho rằng tinh thần dám nghĩ, dám làm không đồng nghĩa với việc bỏ qua quy định hay quyết định tùy tiện.
Điều quan trọng là cán bộ phải dám chịu trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền, chủ động tháo gỡ những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình và đặt hiệu quả công việc, lợi ích chung bên cạnh yêu cầu tuân thủ quy định.
Khi “không quyết” trở thành lựa chọn an toàn
Trong quản lý nhà nước, thận trọng và tuân thủ quy định là yêu cầu không thể thiếu. Tuy nhiên, giữa sự thận trọng cần thiết với tâm lý né tránh, đùn đẩy trách nhiệm tồn tại một khoảng cách đáng lưu ý.
Một cán bộ có thể lựa chọn không quyết vì lo ngại rủi ro cá nhân. Một hồ sơ có thể được chuyển thêm một vòng để xin ý kiến. Một vấn đề có thể tiếp tục chờ hướng dẫn dù thực tế đang đòi hỏi một quyết định.
Ở góc độ doanh nghiệp, hệ quả của những khoảng thời gian chờ đợi ấy là rất cụ thể. Nhưng ở góc độ quản trị, câu hỏi lớn hơn là: điều gì khiến một người có thẩm quyền lựa chọn sự an toàn của việc không quyết định, thay vì chịu trách nhiệm cho một quyết định cần thiết?
Ông Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, nhìn nhận đây là biểu hiện của một bộ phận cán bộ không dám làm, sợ trách nhiệm, lựa chọn cách “vo tròn”, “dĩ hòa vi quý”.
Nếu sự an toàn của bản thân trở thành ưu tiên lớn hơn yêu cầu giải quyết công việc chung, theo ông Phúc, cán bộ dễ rơi vào tâm lý chỉ làm những gì ít rủi ro nhất.
“Có những bộ phận cán bộ không dám làm, sợ trách nhiệm, họ chỉ ‘vo tròn’, dĩ hòa vi quý, lo đánh bóng mình, lấy lòng mọi người để kiếm phiếu bầu, chủ yếu họ lo ‘giữ ghế’”, ông Phúc thẳng thắn nhìn nhận.
Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở tốc độ giải quyết một thủ tục hay hồ sơ cụ thể. Nó liên quan đến cách bộ máy phản ứng trước những vấn đề mới, phức tạp, chưa có sẵn một đáp án hoàn chỉnh trong các quy định hiện hành.
Thực tế quản lý luôn xuất hiện những vấn đề mà pháp luật không thể dự liệu đầy đủ ngay từ đầu. Nếu cán bộ chỉ chờ một quy định có sẵn cho từng tình huống, khả năng phản ứng của bộ máy có thể bị hạn chế. Nhưng nếu cán bộ tự ý quyết định vượt khỏi khuôn khổ pháp luật, một rủi ro khác lại xuất hiện.
Đây là ranh giới khó của câu chuyện “dám nghĩ, dám làm”.
Theo ông Phúc, tình hình thế giới và trong nước hiện nay diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi phải được giải quyết ngay, trong khi pháp luật và quy định hiện hành chưa thể tính toán hết. Vì vậy, đội ngũ cán bộ cần năng động, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Nhưng muốn cán bộ thực sự dám làm, theo ông Phúc, không thể chỉ đặt ra yêu cầu về phẩm chất hay tinh thần trách nhiệm của cá nhân.
Phía sau một quyết định dám làm phải là một cơ chế đủ rõ để người cán bộ biết mình được phép làm gì, phải chịu trách nhiệm đến đâu và được bảo vệ thế nào nếu kết quả không như kỳ vọng vì nguyên nhân khách quan.
Đây cũng là điểm khiến câu chuyện “sợ trách nhiệm” không thể giải quyết chỉ bằng những lời kêu gọi tinh thần.
Nếu một cán bộ biết rằng mọi sáng kiến đều có thể trở thành rủi ro cá nhân, trong khi không có cơ chế rõ ràng để phân biệt đổi mới vì lợi ích chung với cố ý làm sai, lựa chọn an toàn vẫn có thể là phản ứng dễ hiểu.
Bởi vậy, theo ông Phúc, cần giải quyết đồng thời hai vế: khuyến khích cán bộ đổi mới và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
“Ở đây có 2 vế, một là vừa khuyến khích phát huy nhưng vừa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, ông Phúc nói.

Vừa khuyến khích phát huy nhưng vừa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Ông Vũ Văn Phúc
Một cán bộ có ý tưởng đổi mới cần báo cáo với cấp ủy và người đứng đầu trực tiếp. Nếu ý tưởng phù hợp, cấp ủy và người đứng đầu cần tạo điều kiện để triển khai; khi phát sinh vướng mắc thì cùng tháo gỡ thay vì trở thành thêm một tầng cản trở. Quan trọng hơn, kết quả của đổi mới cũng cần được nhìn nhận một cách công bằng.
Theo ông Phúc, công tác kiểm tra, giám sát phải đủ khả năng phát hiện sớm những ý tưởng hoặc hành động xuất phát từ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Những trường hợp cố tình gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng phải được xử lý nghiêm.
Nói cách khác, một bộ máy muốn khuyến khích người dám làm cũng phải có khả năng nhận diện và ngăn chặn người lợi dụng việc “dám làm” để làm sai.
Trong lịch sử, đã có những quyết định đổi mới được đưa ra khi thực tiễn đặt ra yêu cầu nhưng cơ chế chưa hoàn toàn sẵn sàng.
Ông Vũ Văn Phúc dẫn trường hợp ông Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, với chủ trương “khoán hộ” được triển khai từ thực tiễn sản xuất tại địa phương. Chủ trương này từng gây tranh luận và chịu những phản ứng khác nhau trước khi những giá trị thực tiễn của nó được nhìn nhận rộng hơn.
Theo ông Phúc, bài học từ trường hợp này không phải mọi quyết định đổi mới đều đúng, mà phải xuất phát từ thực tiễn, hướng đến lợi ích chung và chấp nhận để thực tiễn kiểm nghiệm.
Trở lại câu chuyện thu hút đầu tư, ông N.V.K. cho rằng doanh nghiệp không mong muốn các yêu cầu quản lý bị buông lỏng. Điều doanh nghiệp cần là quy trình rõ ràng, trách nhiệm được xác định và thời gian xử lý phù hợp với yêu cầu của hoạt động đầu tư.
Một dự án không triển khai được không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp hay chủ đầu tư hạ tầng. Dòng vốn chưa được đưa vào sản xuất cũng đồng nghĩa những lợi ích đi kèm như việc làm, hoạt động sản xuất và nguồn thu cho địa phương chưa thể hình thành.
Đó là lý do ông K. cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu những cách làm mới trong quản lý, nhất là với những lĩnh vực đã có các tiêu chuẩn, quy chuẩn tương đối rõ.
“Thay vì để quá nhiều tầng thủ tục kéo dài trước thời điểm dự án hoạt động, có thể tăng trách nhiệm của doanh nghiệp gắn với hậu kiểm chặt chẽ về các điều kiện xây dựng, môi trường và vận hành. Khi doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chuẩn thì không được phép hoạt động; khi đã đáp ứng đầy đủ thì quy trình cần đủ thông thoáng để dự án đi vào sản xuất”, ông K. nêu ý kiến.
Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị yêu cầu phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời khắc phục tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc cầm chừng, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Nghị quyết cũng đặt yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, phân định rõ giữa rủi ro, sai sót khách quan trong quá trình thử nghiệm với hành vi cố ý làm trái, vụ lợi; đồng thời xử lý nghiêm việc lợi dụng đổi mới để tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.
Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/vi-sao-so-trach-nhiem-tro-thanh-diem-nghen-can-thao-go-ar1040027.html
