Viên chức được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP xác lập vị trí việc làm là căn cứ trung tâm trong công tác quản lý viên chức, làm cơ sở để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phát triển đội ngũ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện chính sách tiền lương theo vị trí việc làm khi cấp có thẩm quyền ban hành.

Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP (ngày 26/6/2026) quy định về vị trí việc làm viên chức. Ảnh tư liệu - minh họa: Giang Phương/TTXVN
Thực hiện quy định của Luật Viên chức năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019), các bộ đã ban hành thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm viên chức. Tuy nhiên, việc quản lý viên chức theo mô hình chức nghiệp kết hợp với vị trí việc làm chưa thực sự tạo cơ chế linh hoạt, hiệu quả trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, sử dụng viên chức. Theo chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, việc rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm là yêu cầu đặt ra nhằm đáp ứng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Qua đó, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị và đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Theo Luật Viên chức số 129/2025/QH15, mô hình quản lý viên chức đã thay đổi căn bản so với Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), chuyển từ quản lý theo chức danh nghề nghiệp sang quản lý theo vị trí việc làm. Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Viên chức năm 2025, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý viên chức theo vị trí việc làm và khắc phục những bất cập trong thực tiễn, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Nghị định xác lập vị trí việc làm là căn cứ trung tâm trong công tác quản lý viên chức, làm cơ sở để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phát triển đội ngũ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện chính sách tiền lương theo vị trí việc làm khi cấp có thẩm quyền ban hành.
Thống nhất danh mục vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập
Điểm nổi bật của Nghị định này là quy định danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành (bao gồm danh mục vị trí việc làm quản lý, danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ). Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm.
Mỗi vị trí việc làm được thiết kế theo các bậc phát triển nghề nghiệp. Căn cứ danh mục vị trí việc làm khung, đơn vị sự nghiệp công lập lựa chọn các vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao để tuyển dụng, bố trí, sử dụng và quản lý viên chức.
Bộ Nội vụ cho biết, trước đây, theo Nghị định số 106/2020/NĐ-CP, người đứng đầu bộ, ngành có trách nhiệm hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đồng thời xây dựng vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung và vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý để Bộ Nội vụ ban hành.
Nay theo Nghị định 232, việc Chính phủ ban hành danh mục vị trí việc làm khung sẽ bảo đảm việc xây dựng vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện thống nhất, các bộ không phải ban hành hướng dẫn về danh mục vị trí việc làm thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý.
Quản lý theo vị trí việc làm và kết quả đầu ra sản phẩm
Đáng chú ý, điểm mới trong Nghị định này là quy định về bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm. Đây là mức thể hiện khả năng thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong cùng một vị trí việc làm, được xác định căn cứ vào độ phức tạp của nhiệm vụ, yêu cầu về kết quả, sản phẩm đầu ra và phạm vi trách nhiệm, mức độ ảnh hưởng chuyên môn.
Hiện nay, hệ thống tiền lương hiện hành theo quy định tại Bảng 3 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Theo đó, tại khoản 3 Điều 7 Nghị định thiết kế 5 bậc nghề nghiệp tương ứng với các nhóm ngạch lương viên chức này, bảo đảm đồng bộ, không làm phát sinh hệ thống tiền lương mới và phù hợp với quy định của tiền lương hiện hành.
Luật Viên chức năm 2025 đã bỏ quy định về hạng chức danh nghề nghiệp viên chức, chuyển sang cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm. “Việc quy định vị trí việc làm có 5 bậc nghề nghiệp tương ứng với các nhóm ngạch lương hiện hành là giải pháp vừa bảo đảm phù hợp với tiền lương viên chức hiện hành, vừa tạo ra cơ chế quản lý linh hoạt, gắn với năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập”, đại diện Bộ Nội vụ lý giải.
Cũng theo Bộ Nội vụ, việc xác định nhiều bậc nghề nghiệp trong cùng một vị trí việc làm nhằm phân hóa mức độ năng lực, trách nhiệm và kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức mà không làm thay đổi vị trí việc làm. Qua đó, tạo cơ sở linh hoạt trong bố trí, sử dụng, đánh giá và trả lương theo năng lực và hiệu quả công việc; khuyến khích phát triển năng lực theo chiều sâu, nâng cao chất lượng dịch vụ công; góp phần chuyển từ quản lý theo hạng chức danh nghề nghiệp sang quản lý theo vị trí việc làm và kết quả đầu ra sản phẩm; khắc phục hạn chế của cơ chế hạng chức danh nghề nghiệp thiên về bằng cấp, thâm niên.
Mặt khác, Nghị định xác định việc bố trí viên chức vào bậc nghề nghiệp cụ thể gắn với năng lực và yêu cầu công việc, không bắt buộc bố trí theo tuần tự thứ bậc, không bắt buộc sử dụng đầy đủ các bậc đối với từng vị trí việc làm. Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được sử dụng như công cụ quản trị nhân sự; việc xác định, lựa chọn sử dụng và thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được căn cứ vào nội dung nhiệm vụ, kết quả sản phẩm đầu ra, yêu cầu năng lực và nhu cầu của đơn vị sự nghiệp công lập, qua đó bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi trong tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, chuẩn nghề nghiệp hoặc điều kiện hành nghề (nếu có) thì các nội dung này được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm, để xác định nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả đầu ra, yêu cầu năng lực từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Về mối quan hệ giữa vị trí việc làm viên chức quản lý và viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, Nghị định xác định vị trí việc làm viên chức quản lý bao gồm nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ hoặc nhiệm vụ hỗ trợ tương ứng với lĩnh vực hoạt động mà viên chức được giao phụ trách. Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.
Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập; đơn vị sự nghiệp công lập khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được tự quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của mình, không khống chế tỷ lệ theo từng bậc.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc trường hợp nêu trên thì tỷ lệ viên chức bố trí ở bậc cao nhất thấp hơn hoặc bằng 30% tổng số lượng người làm việc; bậc thấp hơn gần nhất với bậc cao nhất là tỷ lệ thấp hơn hoặc bằng 50% tổng số lượng người làm việc (bao gồm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và số lượng người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp) được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó. Các bậc thấp hơn còn lại (nếu có) là tỷ lệ còn lại.
Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý. Trường hợp chưa đủ số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm ở mỗi bậc thì số còn thiếu không được cộng vào bậc thấp hơn (liền kề hoặc không liền kề). Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.











