Viện Lúa ĐBSCL: sản xuất 7.000 tấn lúa giống mỗi năm, dùng drone gieo sạ

Trước yêu cầu nâng cao giá trị hạt gạo và thích ứng biến đổi khí hậu, Viện Lúa ĐBSCL đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa giống lúa chất lượng cao.

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên, Phó viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL - Ảnh: Văn Kim Khanh

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên, Phó viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL - Ảnh: Văn Kim Khanh

Trong bối cảnh ngành lúa gạo đang chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu, yêu cầu nâng cao chất lượng và giá trị hạt gạo ngày càng trở nên cấp thiết. Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với vai trò là trung tâm nghiên cứu đầu ngành, đã triển khai nhiều giải pháp khoa học nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp chất lượng cao.

Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên, Phó viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, về định hướng nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa lúa chất lượng cao cho vùng ĐBSCL và cả nước.

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên cùng nhóm nghiên cứu xuống đồng ruộng (đội nón lá ở giữa) - Ảnh: V.K.K

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên cùng nhóm nghiên cứu xuống đồng ruộng (đội nón lá ở giữa) - Ảnh: V.K.K

- TS đánh giá như thế nào về vai trò của ĐBSCL trong ngành lúa gạo Việt Nam hiện nay?

- TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên: ĐBSCL tiếp tục giữ vai trò chiến lược trong sản xuất lúa gạo của cả nước, đóng góp trên 50% sản lượng lúa và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu. Năm 2025, diện tích gieo trồng của vùng đạt khoảng 3,7 triệu ha, năng suất bình quân 6,1 - 6,3 tấn/ha, sản lượng từ 24 - 26 triệu tấn lúa. Dù diện tích có xu hướng giảm nhẹ, nhưng nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật, năng suất vẫn tăng ổn định so với giai đoạn trước.

Riêng TP.Cần Thơ mỗi năm có khoảng 710.420 ha lúa, sản lượng đạt 4,59 triệu tấn. Thành phố có nhiều thuận lợi về hạ tầng, cơ giới hóa và sự hỗ trợ của chính quyền. Tuy nhiên, sản xuất lúa vẫn đối mặt với những khó khăn như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sâu bệnh, liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ và lợi nhuận của nông dân còn thấp. Do đó, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của ngành lúa gạo là yêu cầu cấp thiết.

- Thưa TS, Viện Lúa ĐBSCL tập trung nghiên cứu những giống lúa chất lượng cao nào?

- TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên: Viện tập trung chọn tạo các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng gạo tốt, thơm, tỷ lệ gạo nguyên cao, hàm lượng amylose thấp, đồng thời có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích nghi với điều kiện phèn, mặn.

Hiện nay, trên 80% cơ cấu giống trong sản xuất tại ĐBSCL là lúa thơm và lúa chất lượng cao. Một số giống chủ lực gồm OM18, Đài thơm 8, OM5451, IR50404, ST25, OM380, OM34 và ĐS1. Trong đó, OM18 là giống ngắn ngày, chất lượng gạo tốt, thích nghi phèn - mặn, diện tích gieo trồng năm 2024 đã vượt 1 triệu ha. OM5451 cũng là giống ngắn ngày, năng suất cao, thích nghi rộng, ít nhiễm sâu bệnh, diện tích gieo trồng từng đạt trên 1 triệu ha/ năm 2017 - 2018 và hiện đang duy trì trên 700.000ha/năm trong nhiều năm.

Bên cạnh đó, Viện chú trọng công tác bảo hộ giống, tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác, chuyển giao và thương mại hóa, đồng thời bảo đảm quyền lợi của đơn vị nghiên cứu.

Tại trại thực nghiệm Viện Lúa ĐBSCL - Ảnh: V.K.K

Tại trại thực nghiệm Viện Lúa ĐBSCL - Ảnh: V.K.K

- Những tiến bộ kỹ thuật nào đang được Viện triển khai để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thưa TS?

- TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên: Ngoài giống, Viện phát triển các quy trình canh tác tiên tiến nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả và bảo vệ môi trường. Tiêu biểu là quy trình “1 phải 6 giảm”, hướng đến giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao lợi nhuận cho nông dân.

Quy trình canh tác tổng hợp của Viện đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật từ năm 2021. Khi áp dụng, lượng giống gieo sạ giảm 45 - 65%, phân bón giảm 25 - 30%, số lần phun thuốc giảm 3 - 4 lần, trong khi hiệu quả kinh tế tăng trên 30%. Hiện nay, quy trình này đã được ứng dụng trên hơn 20.000ha tại ĐBSCL.

Viện cũng phối hợp triển khai ứng dụng drone trong gieo sạ, bón phân và phun thuốc. Mô hình này giúp giảm khoảng 30% chi phí lao động, hạn chế sâu bệnh, vẫn đảm bảo năng suất và hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, viện còn sản xuất các chế phẩm sinh học, thuốc trừ sâu sinh học và chế phẩm vi sinh phân hủy rơm rạ, góp phần phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên thăm điểm thí nghiệm lúa ở Viện cùng đồng nghiệp - Ảnh: Văn Kim Khanh

TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên thăm điểm thí nghiệm lúa ở Viện cùng đồng nghiệp - Ảnh: Văn Kim Khanh

- Công tác chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Viện được thực hiện ra sao?

- TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên: Viện Lúa ĐBSCL triển khai nhiều hình thức khai thác tác quyền giống lúa như chuyển nhượng quyền sở hữu, ủy quyền khai thác và cho phép sử dụng chung với doanh nghiệp. Một số giống như OM5451, OM8017, OM2514, OM2517, OMCS2000, OM5953, OM6976 đã được chuyển nhượng quyền sở hữu. Nhiều giống khác như OM18, OM9582, OM9577, OM344, OM429, OM5954 được ủy quyền khai thác và phát triển.

Hiện có 51 doanh nghiệp tham gia sử dụng và khai thác các giống lúa của Viện, trong đó có những đơn vị lớn như Tập đoàn Lộc Trời, Công ty Giống cây trồng Trung ương, Tập đoàn Thái Bình.

Hằng năm, Viện sản xuất 6.000 - 7.000 tấn lúa giống các cấp để cung cấp cho ĐBSCL và các vùng lân cận. Đồng thời, Viện phối hợp với doanh nghiệp và hợp tác xã xây dựng mô hình trình diễn, mô hình sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ, nhân rộng mô hình và từng bước thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao.

- Xin TS cho biết định hướng sắp tới của Viện trong nghiên cứu và phát triển lúa chất lượng cao?

- TS Nguyễn Thúy Kiều Tiên: Trong thời gian tới, Viện xác định rõ định hướng nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường. Mục tiêu nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, nhu cầu tiêu thụ và sự hợp tác với doanh nghiệp để cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm.

Về cơ chế - chính sách, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ sản xuất thử, hoàn thiện công nghệ và nhân rộng mô hình. Viện sẽ đẩy mạnh chuyển giao công nghệ thông qua các mô hình trình diễn, đào tạo và tập huấn để người sản xuất làm chủ kỹ thuật.

Một định hướng quan trọng khác là phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu lúa gạo chất lượng cao, gắn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Viện cũng chú trọng tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - nông dân, nhằm bảo đảm sản xuất ổn định và bền vững.

Song song đó, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý sản xuất, theo dõi canh tác và truy xuất nguồn gốc sẽ được đẩy mạnh để tăng tính minh bạch, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và người sản xuất cũng là nền tảng quan trọng để khoa học - công nghệ phát huy hiệu quả lâu dài.

Nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa lúa chất lượng cao là giải pháp then chốt nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, cải thiện thu nhập cho nông dân và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của TP.Cần Thơ cũng như toàn vùng ĐBSCL. Với định hướng đúng đắn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, ngành lúa gạo Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, chất lượng và hiệu quả.

- Cảm ơn TS vì những chia sẻ.

Văn Kim Khanh

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/vien-lua-dbscl-san-xuat-7-000-tan-lua-giong-moi-nam-dung-drone-gieo-sa-245071.html