Viễn thông Việt Nam đứng trước nguy cơ 'già đi' rất nhanh nếu không quyết liệt đổi mới
Viễn thông không thể chỉ 'nâng G' từ 3G lên 4G, 5G để tăng thêm ít giá trị. Viễn thông phải trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói bao gồm điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu (Data) và các nền tảng số, thay vì chỉ là nhà vận hành mạng lưới...

Ảnh minh họa.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nuyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh tại hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026 của Khối các đơn vị lĩnh vực Bưu chính Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ).
VIỆT NAM NẰM TRONG NHÓM 5 QUỐC GIA ĐẦU TIÊN SẢN XUẤT ĐƯỢC THIẾT BỊ 5G
Theo ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện, năm 2025 là năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam, cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ, thể hiện qua một số chỉ tiêu nổi bật như: Internet băng rộng cố định tăng 4,5 lần, xếp hạng 11 thế giới, tăng 49 bậc so với đầu nhiệm kỳ. Internet băng rộng di động tăng 4,7 lần so với đầu nhiệm kỳ, gấp 2 lần so với 2024, xếp hạng 17 thế giới, tăng 45 bậc, đạt tốc độ 160 Mbps.
Hạ tầng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G tăng trưởng đột phá với vùng phủ từ 0,93% năm 2023 lên 90,2% (2025), số trạm 5G từ 184 tăng lên 35.304 trạm. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 87,6% năm 2025.
Nếu viễn thông chỉ tiếp tục bán phút gọi hay từng gigabyte dữ liệu, thì giá trị ngày càng giảm, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, biên lợi nhuận ngày càng mỏng, cuối cùng sẽ không còn đủ nguồn lực để tái đầu tư cho hạ tầng. Đã đến lúc phải chuyển đổi từ các công ty viễn thông truyền thống (TelCo) sang các công ty hạ tầng, cụ thể là hạ tầng số (Infrastructure Company).
Trong giai đoạn 2020 - 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành phủ lõm sóng cho 3.238 thôn, bản. Năm 2025 cũng ghi dấu ấn khi Việt Nam cũng được Gartner ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia đầu tiên sản xuất được thiết bị 5G.
Về thúc đẩy hạ tầng số, công tác quản lý tần số, năm 2025, Cục Tần số Vô tuyến điện đã tổ chức đấu giá thành công thêm 2 cuộc đấu giá, nâng tổng lượng băng tần cấp cho di động tăng gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ.
Xác lập được thời điểm tắt sóng 2G, 3G trong quy hoạch băng tần và tổ chức ngừng 2G là một dấu mốc lớn, chuyển từ hạ tầng "a-lô" sang hạ tầng dữ liệu. Xác lập được các điều kiện để cấp lại và thực thi việc cấp lại các băng tần, thay vì thu hồi lại băng tần và tổ chức đấu giá lại, giữ ổn định cho thị trường di động 120 triệu thuê bao, đặc biệt là mạng 4G.
Về lĩnh vực bưu chính, giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận tăng trưởng doanh thu bưu chính bình quân 18,6%/năm, tăng trưởng sản lượng bưu gửi bình quân 31,5%/năm. Năm 2025, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, sản lượng bưu gửi đạt 4,2 tỷ bưu gửi, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.

Toàn cảnh hội nghị.
Về IPv6, tỷ lệ triển khai đạt 67,68%, đứng thứ 7 thế giới. Trọng tâm hiện nay không chỉ là mở rộng tỷ lệ mà là chuyển dịch kiến trúc mạng từ dual-stack (IPv4 và IPv6) sang mạng chỉ IPv6 only, chuẩn bị cho lộ trình ngừng phụ thuộc IPv4, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu mở rộng Internet, IoT, 5G/6G.
Tên miền quốc gia ".vn", quy mô đạt 683.621 tên miền, xếp thứ 3 ASEAN, tăng trưởng ổn định 3-6% mỗi năm, cho thấy mức độ tin cậy cao của hạ tầng DNS và sự chấp nhận rộng rãi của thị trường.
Hệ thống đo lượng tốc độ Internet iSpeed do VNNIC xây dựng hiện thu thập 2,3 triệu mẫu đo mỗi tháng, tăng 230% so với năm 2023, 1,3 triệu lượt cài đặt ứng dụng.
NGÀNH VIỄN THÔNG ĐANG TĂNG TRƯỞNG CHẬM HƠN NỀN KINH TẾ SỐ TỪ 5 - 6 LẦN
Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chỉ rõ mô hình tăng trưởng truyền thống của ngành viễn thông hiện nay đã chạm tới giới hạn. Tăng trưởng dựa trên số lượng thuê bao, lưu lượng sử dụng hay doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao không còn nhiều dư địa mở rộng. Từ 3G, 4G đến 5G, nếu chỉ dừng lại ở việc nâng cấp "G" cao hơn, giá trị gia tăng tạo ra là rất hạn chế.
Trong khi đó, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang bùng nổ mạnh mẽ trên toàn cầu, thì doanh thu viễn thông lại tăng trưởng chậm, thậm chí thấp hơn đáng kể so với tốc độ phát triển của nền kinh tế số.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng.
Bộ trưởng chỉ ra một nghịch lý đáng suy ngẫm, viễn thông là hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng chính ngành viễn thông lại đang tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số từ 5 đến 6 lần.
Theo Bộ trưởng, nguyên nhân cốt lõi nằm ở chỗ tư duy phát triển của ngành vẫn chủ yếu xoay quanh vai trò cung cấp kết nối, trong khi thế giới đã chuyển mạnh sang cung cấp năng lực số.
Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Nếu viễn thông chỉ tiếp tục bán phút gọi hay từng gigabyte dữ liệu, thì giá trị ngày càng giảm, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, biên lợi nhuận ngày càng mỏng, cuối cùng sẽ không còn đủ nguồn lực để tái đầu tư cho hạ tầng.
Từ thực tế đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, đã đến lúc phải chuyển đổi từ các công ty viễn thông truyền thống (TelCo) sang các công ty hạ tầng, cụ thể là hạ tầng số (Infrastructure Company).
Nếu 5G chỉ để xem video nét hơn hay tải dữ liệu nhanh hơn, thì 5G sẽ thất bại về mặt kinh tế. 5G chỉ thực sự phát huy giá trị khi được triển khai sâu vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao như nhà máy, cảng biển, logistics, y tế, năng lượng và đô thị thông minh, để trở thành hạ tầng của sản xuất, của đổi mới sáng tạo và của tăng trưởng chất lượng cao.
Viễn thông không thể chỉ được nhìn nhận là hạ tầng kết nối, mà phải trở thành hạ tầng năng lực số của toàn bộ nền kinh tế. Trên thực tế, vấn đề này đã được đặt ra và thảo luận từ 6–7 năm trước, như một cuộc chuyển dịch từ "A-lô" sang hạ tầng của nền kinh tế số – và Bộ trưởng gọi đó là cuộc đổi mới lần thứ hai của ngành viễn thông.
Sự chuyển đổi này đồng nghĩa với việc viễn thông không chỉ bán băng thông, mà phải cung cấp các gói dịch vụ năng lực số hoàn chỉnh, bao gồm điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu (Data), an toàn – an ninh mạng (Security), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số.
Viễn thông phải trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói, thay vì chỉ là nhà vận hành mạng lưới.
Trong bối cảnh đó, công nghệ 5G không được hiểu đơn thuần là tốc độ nhanh hơn. Bộ trưởng khẳng định, nếu 5G chỉ để xem video nét hơn hay tải dữ liệu nhanh hơn, thì 5G sẽ thất bại về mặt kinh tế. 5G chỉ thực sự phát huy giá trị khi được triển khai sâu vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao như nhà máy, cảng biển, logistics, y tế, năng lượng và đô thị thông minh, để trở thành hạ tầng của sản xuất, của đổi mới sáng tạo và của tăng trưởng chất lượng cao.
Bộ trưởng thẳng thắn chỉ rõ, nếu viễn thông không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, thì chính nền tảng của tăng trưởng quốc gia cũng sẽ bị suy yếu. Viễn thông không còn là lĩnh vực "ổn định để giữ", mà phải trở thành lĩnh vực sáng tạo để dẫn dắt.
Sự thay đổi mang tính căn cơ này, theo Bộ trưởng, phải bắt đầu từ chính quản lý nhà nước. Trước hết là sự chuyển dịch tư duy từ quản lý tần số thuần túy sang quản lý tần số vì mục tiêu phát triển, thay vì chỉ tập trung tối đa hóa kết quả đấu thầu.
Đồng thời, quản lý nhà nước cần chuyển từ mô hình cấp phép truyền thống sang thiết kế "luật chơi mới", xây dựng các khung chính sách thử nghiệm (sandbox) để tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.
Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng có trách nhiệm mở đường về thể chế, cho phép thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới, dịch vụ mới và chấp nhận những thất bại có kiểm soát.
Thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động quản lý quen thuộc như cấp phép, xử lý SIM rác, quản lý giá cước hay khuyến mại, trọng tâm cần được dịch chuyển sang thiết kế mô hình phát triển mới, xây dựng sandbox và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình thử nghiệm các dịch vụ số thế hệ mới.
Bộ trưởng khẳng định, ngành Viễn thông Việt Nam không hề yếu, nhưng đang đứng trước nguy cơ "già đi" rất nhanh nếu không quyết liệt đổi mới. Nếu tiếp tục vận hành theo quán tính cũ, ngành có thể đánh mất vai trò dẫn dắt trong kỷ nguyên số.
Tuy nhiên, Bộ trưởng bày tỏ niềm tin rằng viễn thông Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới, một cuộc đổi mới lần thứ hai, diễn ra sau gần 40 năm kể từ cuộc đổi mới lần thứ nhất mang tính lịch sử.












