Việt Nam có thể làm chủ nhiều khâu trong chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi
Kinh nghiệm và năng lực tích lũy từ ngành dầu khí ngoài khơi đang tạo nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ nhiều khâu trong chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, từ khảo sát, chế tạo kết cấu, logistics đến xây lắp, vận hành và bảo dưỡng.
TS Lê Thị Thoa - Giám đốc Dự án CASE, Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ Việt Nam - cho rằng kinh nghiệm nhiều năm trong ngành dầu khí ngoài khơi tạo nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ nhiều khâu trong chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, qua đó tăng tỷ lệ nội địa hóa và hướng tới tham gia thị trường quốc tế.

TS Lê Thị Thoa - Giám đốc Dự án CASE, Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ Việt Nam.
Tại diễn đàn “Tương lai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026” ngày 4/10, bà Thoa cho biết Việt Nam có khả năng tự chủ ở nhiều công đoạn trong chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi.
“Việt Nam có thể làm chủ một số công nghệ chính trong chuỗi phát triển điện gió ngoài khơi bao gồm 5 giai đoạn chính là phát triển dự án, chế tạo thiết bị và kết cấu, cảng biển và logistics, xây lắp tích hợp hệ thống, vận hành và bảo dưỡng (O&M)”, TS Thoa cho hay.
Ở khâu phát triển dự án, các doanh nghiệp tư vấn và chủ đầu tư trong nước đã tích lũy kinh nghiệm khảo sát, đo gió và thiết kế kỹ thuật nhờ tích lũy kiến thức qua chuỗi dự án điện gió triển khai liên tục từ năm 2011.
Với chế tạo thiết bị và kết cấu, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC), Vietsovpetro có thế mạnh về sản xuất móng chân đế phục vụ các dự án năng lượng ngoài khơi. Kinh nghiệm đóng tàu, chế tạo thiết bị dầu khí cũng tạo nền tảng để doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất trạm biến áp ngoài khơi.
Ở lĩnh vực turbine, CS Wind của Hàn Quốc và PTSC đã hợp tác chế tạo tháp turbine, qua đó tăng khả năng cung ứng trong nước và giảm phụ thuộc vào thiết bị nhập khẩu.
Hệ thống cảng biển cùng năng lực vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng cũng là lợi thế của Việt Nam trong khâu logistics. Đây là nền tảng để tập kết thiết bị, vận chuyển và triển khai thi công các công trình trên biển.
Trong vận hành và bảo dưỡng, lực lượng kỹ thuật trong nước đang từng bước tiếp nhận công nghệ và nâng cao năng lực thông qua hợp tác quốc tế.
Bên cạnh các công đoạn trong chuỗi giá trị, bà Thoa cho rằng Việt Nam đang hình thành 4 nhóm năng lực nền tảng.
“Quá trình đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi của Việt Nam thể hiện qua 4 năng lực chính. Đây cũng là những lĩnh vực mà sự liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp được thể hiện rõ nét”, TS Thoa nói.
Theo bà Thoa, năng lực đầu tiên là kỹ thuật, với đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm từ các doanh nghiệp dầu khí và điện lực. Năng lực thứ hai là cảng biển và logistics. Năng lực thứ ba nằm ở khả năng chế tạo cơ khí lớn, dựa trên thế mạnh về thép và kỹ thuật hàn. Trong khi đó, năng lực quản trị chuỗi cung ứng được cải thiện nhanh cùng sự phát triển của các dự án năng lượng tái tạo.
“Lộ trình đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong lĩnh vực này cần thực hiện theo 4 bước: hấp thụ công nghệ - nội địa hóa có chọn lọc - tích hợp hệ thống - cạnh tranh xuất khẩu”, bà Thoa nhận định.
Theo chuyên gia, để nâng tỷ lệ nội địa hóa, Việt Nam cần tăng liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn, chứng nhận kỹ thuật quốc tế. Đây được xem là điều kiện để doanh nghiệp trong nước không chỉ tham gia các dự án trong nước mà còn từng bước cung cấp thiết bị, dịch vụ cho thị trường điện gió ngoài khơi khu vực và quốc tế.

