Việt Nam đang xuất nhập khẩu mặt hàng nào với các nước khối EFTA
Lũy kế 3 quý đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu sang 3 thị trường thành viên khối EFTA đạt 371 triệu USD, nhập khẩu đạt 1,09 tỷ USD.
Khối Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (khối EFTA) gồm 4 thị trường: Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Tính đến hết tháng 9/2026, Cục Hải quan đã công bố số liệu thương mại của Việt Nam với 3 thị trường trong số này (Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland), trong khi số liệu giao thương với Liechtenstein không được công bố.
Lũy kế 3 quý đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu sang ba thị trường trên đạt 371 triệu USD, trong đó xuất khẩu sang Na Uy đạt 220,9 triệu USD, tăng 56,6% so với cùng kỳ năm trước (YoY); Thụy Sỹ đạt 143,8 triệu USD, tăng 7,7% YoY; Iceland đạt 6,3 triệu USD, tăng 11,4% YoY.
Ngược lại, Việt Nam chi 1,09 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa từ ba thị trường trên. Bao gồm, kim ngạch nhập khẩu từ Thụy Sỹ đạt 662 triệu USD, tăng 6,7% YoY; Na Uy đạt 423 triệu USD, giảm 7,3% YoY; Iceland đạt 10,5 triệu USD, tăng 102,3% YoY.

Na Uy
Trong kỳ, phương tiện vận tải và phụ tùng là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường này, đạt 91 triệu USD, tăng tới 397% so với mức 18,3 triệu USD tại cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 17,7 triệu USD, tăng 111,4% so với cùng kỳ năm 2025; giày dép đạt 15,7 triệu USD, tăng 6% YoY; dệt may đạt 10,7 triệu USD, tăng 5,9% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu túi xách, ví vali, mũ ô dù tăng 13,5% YoY, lên 7,6 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 5,7 triệu USD, giảm 27% YoY; sản phẩm nội thất từ chất liệu khách gỗ đạt 1,31 triệu USD, tăng 13,9% YoY.
Trong nhóm nông thủy sản, Việt Nam thu về 9,2 triệu USD từ xuất khẩu hạt điều sang Na Uy, tăng 9,8% YoY; thủy sản đạt 11,6 triệu USD, giảm 4,9% YoY; rau quả đạt 3,72 triệu USD, tăng 17,7% YoY.
Thụy Sỹ
3 quý đầu năm 2026, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Thụy Sỹ với trị giá 48,6 triệu USD, tăng tới 52,3% so với cùng kỳ năm trước.
Mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai là thủy sản với kim ngạch 24,3 triệu USD, giảm 12,9% so với 3 quý đầu năm 2025.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là giày dép đạt 17,4 triệu USD, giảm 4,9% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 12,1 triệu USD, giảm 14,1% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 9,5 triệu USD, tăng 15,4% YoY; sản phẩm từ sắt thép đạt 7,2 triệu USD, giảm 5,5% YoY; rau quả đạt 2,6 triệu USD, tăng 9,7% YoY.
Iceland
Việt Nam xuất khẩu hóa chất sang Iceland đạt 0,1 triệu USD, giảm 75% so với cùng kỳ năm trước; giày dép đạt 0,16 triệu USD, giảm 61,9% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng tới 166,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt 0,08 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép giảm 81,4% YoY, đạt 0,05 triệu USD.


Na Uy
Thủy sản là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Na Uy, đạt 251,8 triệu USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai với trị giá 64,7 triệu USD, giảm 35,3% so với 3 quý đầu năm 2025.
Các mặt hàng nhập khẩu đứng sau lần lượt là phân bón với kim ngạch 31,2 triệu USD, giảm 1,8% YoY; sản phẩm từ sắt thép đạt 7,68 triệu USD, giảm 1,5% YoY; sản phẩm hóa chất đạt 3,2 triệu USD, giảm 7,2% YoY.
Thụy Sỹ
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Thụy Sỹ trong 3 quý đầu năm 2026, đạt 143 triệu USD, giảm 17,4% YoY.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai với trị giá 104,6 triệu USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam còn chi 88,5 triệu USD để nhập khẩu dược phẩm từ thị trường này, giảm 8% YoY; sản phẩm hóa chất đạt 38,6 triệu USD, tăng tới 103,1% YoY; sản phẩm từ chất dẻo đạt 34,3 triệu USD, tăng 43,5% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 31,2 triệu USD, tăng 5,4% YoY; hóa chất đạt 22,8 triệu USD, tăng 34,9% YoY; sữa và sản phẩm sữa đạt 12,9 triệu USD, giảm 30,6% YoY.
Iceland
Thủy sản là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Iceland, đạt 5,6 triệu USD, tăng 522% so với mức 0,9 triệu USD tại cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với trị giá 2,83 triệu USD, tăng 93,8% so với cùng kỳ năm trước; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 1,25 triệu USD, giảm 47,6% YoY.




