Việt Nam đặt mục tiêu bảo vệ 100% hệ thống thông tin quan trọng trước nguy cơ từ máy tính lượng tử
Đến năm 2035, Việt Nam đặt mục tiêu chuyển đổi toàn bộ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia sang mật mã kháng lượng tử, nhằm ứng phó nguy cơ các công nghệ mã hóa hiện nay bị phá vỡ khi máy tính lượng tử phát triển.
Thông tin được Thiếu tướng Hồ Văn Hương, Phó Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ, cho biết tại Hội thảo “Công bố 3 Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử” sáng 17/10.

Phó Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ, Thiếu tướng Hồ Văn Hương phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Hạnh Nhung
Theo ông, sự phát triển của công nghệ tính toán lượng tử đang đặt ra thách thức mới đối với an toàn thông tin, đặc biệt là những dữ liệu cần được bảo mật trong thời gian dài.
Máy tính lượng tử trong tương lai có thể phá vỡ một số thuật toán mật mã khóa công khai phổ biến hiện nay như RSA, ECC. Đáng lo ngại là hình thức tấn công "thu thập trước, giải mã sau" (Harvest Now, Decrypt Later), trong đó dữ liệu mã hóa bị thu thập từ hiện tại để chờ giải mã khi công nghệ lượng tử đủ mạnh.
Nguy cơ này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi công nghệ bảo mật từ sớm, thay vì chờ đến khi các hệ thống mật mã hiện hành không còn an toàn.
Lộ trình chuyển đổi đến năm 2035
Thiếu tướng Hồ Văn Hương cho biết, thực hiện các nghị quyết của Trung ương về phát triển ngành cơ yếu, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, Ban Cơ yếu Chính phủ xác định nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ mật mã lõi là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và chủ quyền số.

Toàn cảnh Hội thảo “Công bố 3 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử”. Ảnh: Hạnh Nhung
Ban Cơ yếu Chính phủ đã tham mưu Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các đề án về phát triển hệ thống mật mã kháng lượng tử giai đoạn 2026 - 2035 và khuyến khích xã hội hóa nghiên cứu, phát triển, ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035.
Theo lộ trình được giới thiệu, mật mã hậu lượng tử (PQC) sẽ là giải pháp chủ đạo để chuyển đổi trên diện rộng. Công nghệ phân phối khóa lượng tử (QKD) được áp dụng có chọn lọc đối với một số mạng liên lạc trọng yếu. Quá trình triển khai phải bảo đảm thận trọng, đồng bộ và không làm gián đoạn hoạt động của các hệ thống thông tin.
Đến năm 2027, Việt Nam dự kiến hoàn thành ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về thuật toán, sản phẩm và thiết bị bảo mật hậu lượng tử. Năm 2030, các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia sẽ hoàn thành chuyển đổi, tích hợp PQC theo cơ chế lai, kết hợp thuật toán hiện hành với thuật toán kháng lượng tử.
Sau khi bổ sung các tiêu chuẩn về PQC và QKD vào năm 2033, mục tiêu đến năm 2035 là hoàn thành chuyển đổi 100% hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia sang mật mã kháng lượng tử.
Tại hội thảo, Ban Cơ yếu Chính phủ cũng công bố, lấy ý kiến đối với ba dự thảo tiêu chuẩn quốc gia, gồm thuật toán chữ ký số hậu lượng tử dựa trên hàm băm HB-PQSign do Việt Nam nghiên cứu, phát triển; cơ chế đóng gói khóa ML-KEM; và thuật toán chữ ký số dựa trên lưới có cấu trúc ML-DSA. Đây là những thành phần kỹ thuật phục vụ quá trình xây dựng hệ thống bảo mật có khả năng chống lại nguy cơ từ máy tính lượng tử.
Bài toán làm chủ công nghệ và nhân lực mật mã
Theo TS. Nguyễn Quốc Toàn, Viện trưởng Viện Khoa học - Công nghệ mật mã, Ban Cơ yếu Chính phủ, chuyển đổi sang mật mã hậu lượng tử không chỉ là thay thế thuật toán, mà còn đòi hỏi làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ, từ thiết kế, chứng minh tính an toàn, thám mã đến cài đặt, sản xuất phần cứng, tiêu chuẩn hóa và kiểm định.
Nếu không làm chủ đầy đủ các công đoạn này, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài, ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm an ninh quốc gia và an toàn dữ liệu.

TS. Nguyễn Quốc Toàn, Viện trưởng Viện Khoa học - Công nghệ mật mã, Ban Cơ yếu Chính phủ phát biểu. Ảnh: Hạnh Nhung
Theo TS. Nguyễn Quốc Toàn, Ban Cơ yếu Chính phủ đang nghiên cứu theo hướng làm chủ đồng thời bốn tầng công nghệ. Một số kết quả đã đạt được gồm thiết kế thuật toán HB-PQSign, cơ chế đóng gói khóa Hybrid ML-KEM, nghiên cứu chứng minh an toàn thuật toán hậu lượng tử và xây dựng các bộ tham số mật mã an toàn.
Tuy nhiên, khoảng cách từ nghiên cứu thuật toán đến triển khai an toàn trên quy mô quốc gia vẫn là thách thức lớn. Các hệ thống phải có khả năng cập nhật thuật toán, tương thích với hạ tầng hiện có và vận hành liên tục. Đồng thời, cần xử lý những nguy cơ như tấn công kênh kề, tấn công gây lỗi, cũng như hạn chế về kích thước khóa, chữ ký số trên các thiết bị có tài nguyên tính toán thấp.
Một trở ngại khác là nguồn nhân lực nghiên cứu mật mã chuyên sâu còn mỏng, trong khi đào tạo chuyên gia đủ khả năng thiết kế thuật toán độc lập cần nhiều năm.
Để giải quyết, TS. Nguyễn Quốc Toàn đề xuất xây dựng các nhóm chuyên gia nòng cốt theo bốn trụ cột năng lực, gắn đào tạo với nhiệm vụ nghiên cứu và các dự án phát triển thuật toán mật mã quốc gia. Cùng với việc cử cán bộ trẻ đào tạo tiến sĩ, sau tiến sĩ tại các cơ sở nghiên cứu hàng đầu thế giới, cần có chính sách tuyển dụng, đãi ngộ đặc thù để thu hút nhân lực chất lượng cao, kể cả chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.
Các chuyên gia tại hội thảo cũng nhấn mạnh yêu cầu phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ. Đây được xem là điều kiện quan trọng để chuyển các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm bảo mật có thể triển khai trên thực tế, đáp ứng lộ trình chuyển đổi sang mật mã kháng lượng tử và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.
