Việt Nam đủ cơ sở, tiềm lực để bước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”

Một trong những dấu ấn nổi bật mang tính đột phá về tư duy lý luận trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là sự xuất hiện của mệnh đề “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Tuy nhiên, lợi dụng những biến động khó lường của tình hình chính trị thế giới và những thách thức khách quan trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã và đang gia tăng các hoạt động chống phá trên mặt trận tư tưởng. Chúng thường xuyên tạc, Đảng Cộng sản Việt Nam đang “mất phương hướng” hoặc “lý luận giáo điều, xơ cứng, không bắt kịp thực tiễn”.

Ban Thường vụ Thành ủy quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065. Ảnh: Công Nghĩa

Ban Thường vụ Thành ủy quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065. Ảnh: Công Nghĩa

Cơ sở khoa học

Theo Thạc sĩ Trần Thị Thạnh, Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị khu vực II, nghiên cứu Văn kiện Đại hội XIV cho thấy tư duy lý luận của Đảng ngày càng được bổ sung, phát triển theo hướng khoa học, biện chứng và sát thực tiễn. Mệnh đề “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không phải là một phát ngôn cảm tính mà là kết quả của quá trình nhận thức có tính hệ thống, thể hiện sự chủ động về lý luận đối với con đường phát triển đất nước.

Nếu “mất phương hướng” là không xác định được đích đến và lộ trình thì Văn kiện Đại hội XIV đã xác định rõ các mục tiêu phát triển đất nước theo từng giai đoạn, với những chỉ tiêu cụ thể và tầm nhìn dài hạn.

Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định 2 mốc lịch sử quan trọng: đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, phấn đấu đưa Việt Nam “trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, “Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”.

Không chỉ xác định các mục tiêu kinh tế - xã hội, Đảng còn đặt ra lộ trình xây dựng, hoàn thiện lý luận. Đến năm 2030, trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, có thể bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; tiếp tục bổ sung, làm phong phú và hoàn thiện hơn nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đến năm 2045, mục tiêu được xác định là “có một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khoa học và hiện đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”.

Đại hội XIV cũng thể hiện bước phát triển trong tư duy lý luận khi giải quyết mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trọng tâm là mô hình kinh tế và tổ chức bộ máy.

Về mô hình kinh tế, Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là kết quả của quá trình chắt lọc tinh hoa nhân loại; đồng thời tổng kết thực tiễn Việt Nam, cho thấy đất nước không sao chép máy móc một mô hình có sẵn mà từng bước hình thành cách thức phát triển phù hợp và Nhà nước pháp quyền vì lợi ích của nhân dân.

Về tổ chức bộ máy, việc sắp xếp, tinh gọn được xác định không chỉ là cải cách hành chính mà là một cuộc cách mạng nhằm xây dựng bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”.

Kiểm chứng từ thực tiễn

Thực tiễn 40 năm đổi mới là cơ sở quan trọng để đánh giá những bước tiến của đất nước, đồng thời tạo nền tảng cho mục tiêu bước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Thạc sĩ Vũ Thị Thụy, Ban Kế hoạch - Tài chính, Học viện Chính trị khu vực II dẫn chứng: Sau 40 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế đã tăng khoảng 100 lần so với năm 1986. An sinh xã hội được bảo đảm; GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt hơn 5 ngàn USD, tăng khoảng 10 lần so với năm 2000, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chính trị, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế.

Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện của 12 nước và ký kết 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với nhiều đối tác phát triển.

Năm 2025, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) cao. Đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia; trên kênh đối ngoại Đảng, Đảng ta đã thiết lập quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới.

Những kết quả trên là cơ sở thực tiễn quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát huy tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới.

Theo Thạc sĩ Trần Thị Thạnh, Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị khu vực II, mệnh đề “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không đơn thuần là một khẩu hiệu chính trị nhằm cổ vũ tinh thần, mà là sự đúc kết từ những biến đổi về “chất” của “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” của Việt Nam sau gần nửa thế kỷ đổi mới. Khái niệm này đánh dấu bước chuyển từ tư duy “ổn định, thoát nghèo” sang tư duy “bứt phá, thịnh vượng”.

Các động lực trong kỷ nguyên vươn mình

Với câu hỏi “Việt Nam sẽ vươn mình bằng cách nào?”, Thạc sĩ Trần Thị Thạnh cho rằng: Một trong những khâu đột phá là khơi thông, giải phóng sức sản xuất thông qua sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Qua sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, số lượng đầu mối trực thuộc Trung ương giảm 34,9%; số đơn vị hành chính cấp tỉnh giảm 46%, cấp xã giảm 66,9%. Đặc biệt, lần đầu tiên kể từ năm 1945, Việt Nam giảm một cấp hành chính, không tổ chức cấp huyện, hình thành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Cùng với đổi mới tổ chức bộ máy, Việt Nam đang tập trung xây dựng hệ thống hạ tầng và mô hình kinh tế hiện đại, đồng bộ.

Trong lĩnh vực giao thông, Đảng xác định quyết tâm đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và hoàn thiện hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là những công trình giao thông lớn mà còn được kỳ vọng tạo động lực phát triển không gian kinh tế, nâng cao năng lực logistics và tăng sức lan tỏa cho nền kinh tế.

Về an ninh năng lượng, Đại hội XIV thể hiện tầm nhìn dài hạn khi định hướng phát triển điện hạt nhân, ưu tiên công nghệ mô-đun nhỏ (SMR), cùng với phát triển mạnh điện gió ngoài khơi.

Về mô hình kinh tế thế hệ mới, Việt Nam từng bước chuyển từ phát triển các khu công nghiệp truyền thống sang xây dựng các đặc khu kinh tế, khu thương mại tự do thế hệ mới và trung tâm tài chính quốc tế tại một số thành phố lớn, hướng tới thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, Đảng xác định “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”, qua đó tạo nền tảng cho nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ những phân tích về cơ sở khoa học và thực tiễn có thể thấy, “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là một thông điệp cổ vũ tinh thần. Mệnh đề này được đặt trên nền tảng những thành tựu của 40 năm đổi mới, sự phát triển của tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cùng tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

Đó là cơ sở để Việt Nam xác định rõ mục tiêu, lựa chọn những động lực phát triển mới và chủ động bước vào chặng đường phát triển tiếp theo.

Phương Hằng

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/chinh-tri/202609/viet-nam-du-co-so-tiem-luc-de-buoc-vao-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-10601a0/