Việt Nam muốn phổ cập kỹ năng AI cơ bản cho ít nhất 10 triệu lao động

Việt Nam đang xây dựng chiến lược chuyển đổi AI quốc gia với định hướng đưa trí tuệ nhân tạo từ một công cụ hỗ trợ thành năng lực cốt lõi trong quản trị, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hoạt động kinh tế.

Thông tin được TS Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ, chia sẻ trong bài trình bày về chính sách và định hướng chiến lược quốc gia về AI tại Hội thảo khoa học quốc gia Trí tuệ nhân tạo cho Mật mã và An toàn thông tin (AI4CRIS 2026), sáng 14/8.

Theo ông, Bộ KH&CN đang trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo chiến lược, với tên dự kiến là “Chiến lược chuyển đổi AI quốc gia”. Nội dung chuyên môn hiện cơ bản được các bộ, ngành và đơn vị liên quan thống nhất.

Định hướng này đánh dấu bước chuyển từ việc đơn thuần đưa AI vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình, sang chuyển đổi toàn diện bằng AI. Theo đó, AI được hướng đến trở thành năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế đến vận hành.

TS Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ chia sẻ về chính sách và định hướng chiến lược AI quốc gia. Ảnh: Hoa Trần

TS Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ chia sẻ về chính sách và định hướng chiến lược AI quốc gia. Ảnh: Hoa Trần

9 trụ cột cho chuyển đổi AI

Dự thảo “Chiến lược Chuyển đổi AI quốc gia" đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định 9 trụ cột gồm: nhân lực và kỹ năng AI toàn dân; dữ liệu và mô hình AI; hạ tầng AI; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI; AI trong quản trị quốc gia; AI cho các ngành, lĩnh vực; AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã; hệ sinh thái AI; quản trị AI an toàn, đáng tin cậy.

Năm trụ cột đầu tập trung xây dựng năng lực nền tảng và đưa AI trở thành công cụ cốt lõi của quản trị, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Trong đó, nhân lực được xem là yếu tố quyết định, với định hướng phát triển chuyên gia, nhân tài AI, đào tạo lại lực lượng lao động và phổ cập kỹ năng AI.

Về dữ liệu và mô hình, chiến lược hướng tới mở, kết nối và chia sẻ dữ liệu chất lượng cao, phát triển thị trường dữ liệu, đồng thời làm chủ các mô hình AI phù hợp với từng quy mô, trong đó có mô hình tiếng Việt và bộ chuẩn đánh giá.

Hạ tầng AI sẽ bao gồm năng lực tính toán, điện toán đám mây, AI biên và trung tâm dữ liệu. Dự thảo cũng đề cập nền tảng điều phối năng lực tính toán, đồng thời yêu cầu phát triển hạ tầng theo hướng xanh, tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Trụ cột về nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ tập trung vào các trung tâm AI xuất sắc, liên minh nghiên cứu và giải quyết những bài toán lớn của đất nước. Các hướng được nêu gồm AI Make in Viet Nam, công nghệ lõi, AI thế hệ mới, AI vật lý, robot và hệ sinh thái công nghệ mở.

Trong quản trị quốc gia, AI được định hướng hỗ trợ phân tích chính sách, dự báo, ra quyết định, dịch vụ công và hoạt động của cơ quan nhà nước. Dự thảo cũng đề cập trợ lý AI công vụ, trung tâm điều hành thông minh và bản sao số.

Bốn trụ cột còn lại hướng tới đưa AI vào nền kinh tế. Các lĩnh vực được đề cập trải rộng từ nghiên cứu khoa học, sản xuất, logistics, giao thông, nông nghiệp, tài chính - ngân hàng đến y tế, giáo dục, năng lượng và viễn thông.

Một điểm đáng chú ý là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã được tách thành một trụ cột riêng. Mục tiêu là hỗ trợ các nhóm này tiếp cận AI cloud, API, dữ liệu, tài nguyên tính toán, công cụ và đào tạo với chi phí phù hợp.

Song song, chiến lược hướng tới phát triển doanh nghiệp AI, startup, trung tâm xuất sắc, cụm liên kết và thị trường AI, thúc đẩy mã nguồn mở, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ AI.

Trụ cột cuối cùng tập trung vào quản trị AI an toàn, đáng tin cậy, gồm tuân thủ pháp luật, đạo đức, an toàn, an ninh và kiểm thử, đánh giá, giám sát hệ thống AI.

Đặt mục tiêu đo lường được vào năm 2030

Dự thảo đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam nằm trong top 3 Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI, quy mô nền kinh tế AI khoảng 6% GDP, năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15% và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp tích hợp AI đạt khoảng 5 tỷ USD.

Khoảng 60% doanh nghiệp ứng dụng AI được kỳ vọng ghi nhận tăng năng suất, giảm chi phí hoặc tăng doanh thu. Trong khu vực nhà nước, 60% quyết định chỉ đạo, điều hành được đặt mục tiêu có sự hỗ trợ của dữ liệu và AI.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực AI, với AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.

Ở khu vực công, dự thảo đặt mục tiêu 100% bộ, ngành, địa phương ban hành kế hoạch chuyển đổi AI; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được AI hỗ trợ.

Về nhân lực, Việt Nam hướng tới có 10.000 nhân lực AI chuyên sâu, ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, đào tạo lại 500.000 lao động và phổ cập kỹ năng AI cơ bản cho ít nhất 10 triệu lao động.

Để thực hiện được các mục tiêu này, dự thảo đưa ra 6 nhóm giải pháp đột phá, bao gồm hoàn thiện thể chế, chính sách; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí; hợp tác quốc tế, tiêu chuẩn vả quy chuẩn; nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI; đo lường, giám sát và đánh giá.

Điều này cho thấy chiến lược không chỉ đặt vấn đề phát triển và ứng dụng AI, mà hướng tới đo tác động cụ thể của công nghệ đối với năng suất, chi phí, doanh thu, chất lượng quản trị và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là cơ sở để đánh giá liệu quá trình chuyển đổi AI có thực sự tạo ra thay đổi trong hoạt động của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và đời sống xã hội hay không.

Du Lam

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/viet-nam-muon-pho-cap-ky-nang-ai-co-ban-cho-it-nhat-10-trieu-lao-dong-2545620.html