Việt Nam - Những giá trị trường tồn

Độc lập, hòa bình, thống nhất, hạnh phúc. Đó là những giá trị cao cả mà cả nhân loại hướng đến. Đối với dân tộc Việt Nam, những giá trị ấy không chỉ là khát vọng, mà còn là niềm kiêu hãnh đã được thử thách qua lịch sử, bằng máu xương của bao lớp người đã ngã xuống. Trân trọng những gì đã đạt được, mỗi người dân Việt càng ý thức hơn về bổn phận đối với Tổ quốc, đối với giang sơn gấm vóc mà cha ông trao truyền.

1. Thời đại Hùng Vương, dù còn bao phủ bởi lớp sương huyền thoại, vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam với tư cách là điểm khởi nguyên của ý thức quốc gia và hình hài nhà nước sơ khai. Những truyền thuyết về thời Hồng Bàng, về Lạc Long Quân - Âu Cơ hay quan niệm “con Rồng, cháu Tiên” không đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian, mà là kết tinh của nhu cầu nhận thức về nguồn cội, được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Chính từ những câu chuyện ấy, một cộng đồng cư dân đã tự ý thức về sự chung gốc gác, gọi nhau là “đồng bào”, từ đó hình thành nền tảng tinh thần cho sự cố kết dân tộc.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Từ đời Thành Vương nhà Chu… mới gọi là Việt Thường thị…, tên Việt bắt đầu có từ đấy”. Như vậy, khái niệm “Việt” đã manh nha xuất hiện như một dấu hiệu sớm của ý thức định danh dân tộc, khẳng định sự tồn tại của một cộng đồng riêng biệt trong không gian văn hóa - lịch sử phương Đông cổ đại.

Không dừng lại ở ý nghĩa khởi nguyên quốc gia, thời đại Hùng Vương còn đặt nền móng cho một hệ giá trị văn hóa bền vững. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - được UNESCO vinh danh - chính là biểu hiện của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đồng thời phản ánh cách người Việt hình dung quốc gia như một “gia đình lớn”. Trong mô hình ấy, quan hệ huyết thống được nâng lên thành nguyên tắc tổ chức xã hội, tạo nên một hệ ý thức thống nhất, nơi quá khứ - hiện tại - tương lai được nối kết qua nghi lễ Giỗ Tổ. Điều này không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa trong chiều dài lịch sử nhiều biến động, mà còn củng cố sức mạnh tinh thần để cộng đồng vượt qua thử thách.

Trong trường ca Đất Nước, tác giả Nguyễn Khoa Điềm khắc họa Đất Nước như một không gian thiêng liêng mà gần gũi, nơi “dân mình đoàn tụ”, nơi “Đất là nơi Chim về”, “Nước là nơi Rồng ở”. Hình tượng Lạc Long Quân - Âu Cơ sinh ra “đồng bào trong bọc trứng” không chỉ là huyền thoại khai sinh dân tộc, mà còn là biểu tượng của sự thống nhất trong đa dạng, của ý thức cộng đồng xuyên suốt chiều dài lịch sử. Từ đó, hành động “cúi đầu nhớ ngày Giỗ Tổ” trở thành một nghi thức văn hóa - lịch sử, nhắc nhở mỗi cá nhân về trách nhiệm kế thừa và phát triển những giá trị mà cha ông để lại.

Thời đại Hùng Vương - vì thế không chỉ là điểm mở đầu của lịch sử dân tộc theo nghĩa niên đại, mà còn là cội nguồn của ý thức dân tộc, của cấu trúc văn hóa - xã hội và của hệ giá trị tinh thần Việt Nam. Chính từ nền tảng ấy, lịch sử Việt Nam tiếp tục vận động và phát triển nhưng luôn mang trong mình dấu ấn sâu đậm của một thời đại khởi nguyên - nơi “tên Việt” bắt đầu từ đó - nơi tinh thần Việt được hình thành, bền bỉ và trường tồn.

2. “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt là lịch sử “dựng nước” đi liền với “giữ nước”, hết ngoại xâm phương Bắc đến ngoại xâm phương Tây nhưng ý thức về một quốc gia độc lập, một dân tộc tự chủ, thống nhất luôn là mạch nguồn xuyên suốt mà không một thế lực ngoại bang nào có thể đè bẹp được.

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, đặc biệt dưới ánh sáng của thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị “độc lập”, “hòa bình”, “thống nhất”, “hạnh phúc” không còn chỉ là những khái niệm chính trị mà đã trở thành kết tinh cao nhất của ý chí dân tộc, là thành quả được đánh đổi bằng máu xương, nước mắt và biết bao mất mát không gì có thể bù đắp nổi.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, chấm dứt ách thống trị của thực dân, khẳng định chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Từ thời khắc ấy, “độc lập” không còn là khát vọng xa xôi, mà trở thành quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một dân tộc.

Nhưng để bảo vệ, hiện thực hóa nền độc lập ấy, dân tộc Việt Nam đã phải tiếp tục bước vào những cuộc kháng chiến trường kỳ, nơi giá trị “hòa bình” được khẳng định bằng sức mạnh của chính nghĩa. Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Lời tuyên bố ấy đã khắc họa rõ ràng chân lý: hòa bình chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với độc lập và tự do, chỉ có thể đạt được bằng ý chí kiên cường của cả dân tộc.

Nếu “độc lập” là nền tảng, “hòa bình” là điều kiện phát triển, thì “thống nhất” chính là khát vọng thiêng liêng xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt nhưng ý chí thống nhất chưa bao giờ nguôi trong lòng mỗi người Việt. Tư tưởng ấy được kết tinh sâu sắc trong lời căn dặn của Hồ Chí Minh: “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Và bằng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng ấy đã trở thành hiện thực với “Ngày Toàn thắng” của Chiến dịch Hồ Chí Minh, từ đây non sông thu về một mối, Bắc - Nam liền một dải.

Chiến thắng ngày 30/4/1975 không chỉ là chiến thắng về mặt quân sự, mà là chiến thắng của ý chí thống nhất, của niềm tin không gì lay chuyển được của cả một dân tộc; của lời tuyên ngôn bất hủ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Nhìn lại tiến trình lịch sử, có thể khẳng định “độc lập”, “hòa bình”, “thống nhất”, “hạnh phúc” không phải là những giá trị tự nhiên có sẵn, mà là thành quả của một lịch sử đấu tranh gian khổ, được đánh đổi bằng biết bao hy sinh của các thế hệ người Việt Nam. Chính vì vậy, những giá trị ấy càng trở nên thiêng liêng và bền vững, trở thành nền tảng tinh thần để dân tộc ta tiếp tục vững bước trong hiện tại và tương lai.

3. “Hạnh phúc của Thạc và Như Anh chỉ có thể gắn chặt với niềm vui chung của dân tộc mà thôi” - Giữa bom đạn chiến tranh ác liệt, liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc (hy sinh ngày 30/7/1972) đã viết như thế trong lá thư hồi âm người yêu của mình vào giữa năm 1971. Anh Thạc cũng như hàng triệu liệt sĩ khác đã không được hưởng niềm vui của ngày Thống nhất nhưng các anh đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, vào trời xanh xứ sở, đã góp thân mình dựng xây niềm hạnh phúc của Nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với hạnh phúc của Nhân dân luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Quan niệm đó không chỉ thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc, mà còn khẳng định rõ bản chất vì con người của con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội mà cách mạng Việt Nam đã lựa chọn.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu “hạnh phúc” của Nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là đích đến cao nhất của sự phát triển. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (tháng 1/2026) đã đề cập trực tiếp đến thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của Nhân dân, với yêu cầu “nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân”. Đồng thời nhấn mạnh “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân”; “… lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.

Trong các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030 được Đại hội đề ra là: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030) duy trì mức giảm 1 - 1,5 điểm%/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất…

Tuy nhiên cần khẳng định rằng, hạnh phúc không chỉ là mục tiêu, là đích đến mà còn là quá trình dựng xây. Chỉ có được một quốc gia hạnh phúc khi mỗi người Việt hôm nay đều ý thức về hành động của mình, mỗi suy nghĩ, việc làm đều thể hiện trách nhiệm đối với cơ đồ cha ông để lại và tương lai của đất nước.

G.Hoàng - Đ.Anh

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/viet-nam-nhung-gia-tri-truong-ton.html