Việt Nam phấn đấu tự chủ 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc vào năm 2030
Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược đặt mục tiêu đáp ứng 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc trong nước vào năm 2030.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1954/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hướng tới nâng cao năng lực tự chủ nguyên liệu làm thuốc, giảm phụ thuộc nhập khẩu và bảo đảm an ninh thuốc quốc gia.
Phấn đấu đáp ứng 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc
Chương trình đặt mục tiêu phát triển công nghiệp hóa dược Việt Nam trở thành ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện đại, có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh. Trọng tâm là nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ sản xuất nguyên liệu làm thuốc.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ, tiếp nhận và chuyển giao một số công nghệ tiên tiến; hình thành năng lực sản xuất trong nước đối với một số nguyên liệu làm thuốc thiết yếu, chiến lược và có lợi thế cạnh tranh, ưu tiên hoạt chất, nguyên liệu khởi đầu, hóa chất trung gian và tá dược.

Hình minh họa. Nguồn: DTP
Chương trình đặt mục tiêu đáp ứng khoảng 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc phục vụ sản xuất thuốc trong nước, trong đó ưu tiên nâng cao tỷ lệ tự chủ đối với các hoạt chất và nguyên liệu thiết yếu, chiến lược. Đồng thời, hình thành ít nhất 2 trung tâm nghiên cứu và triển khai về hóa dược đạt trình độ tiên tiến, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, có năng lực nghiên cứu, phát triển quy trình, thử nghiệm, mở rộng quy mô, chuyển giao và hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, sản phẩm.
Đáng chú ý, 100% cơ sở sản xuất hoạt chất, tá dược và nguyên liệu làm thuốc khác trong nước phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, thực hành tốt sản xuất (GMP) và an toàn hóa chất theo quy định. Tối thiểu 50% cơ sở sản xuất áp dụng các giải pháp số trong quản lý sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Chương trình cũng hướng tới thương mại hóa các công nghệ, sản phẩm hóa dược có giá trị gia tăng cao, ưu tiên sản phẩm có khả năng thay thế nguyên liệu nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất thuốc trong nước và có tiềm năng xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm hóa dược có giá trị gia tăng cao phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên.
Đến năm 2045, hình thành ngành công nghiệp công nghệ cao
Theo định hướng đến năm 2045, công nghiệp hóa dược Việt Nam trở thành ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Việt Nam từng bước hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh, gắn kết nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm.
Mục tiêu đặt ra là làm chủ và có năng lực cạnh tranh đối với một số công nghệ, nguyên liệu làm thuốc thiết yếu và chiến lược; nâng cao khả năng tự chủ nguồn cung nguyên liệu, bảo đảm an ninh thuốc và tăng năng lực ứng phó khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Cùng với đó, Việt Nam hướng tới trở thành một trong những quốc gia có năng lực sản xuất, nghiên cứu và phát triển một số sản phẩm hóa dược có giá trị gia tăng cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hóa dược và dược phẩm khu vực, toàn cầu.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Chương trình đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, pháp luật; khoa học - công nghệ, nhân lực và đào tạo; hợp tác quốc tế; xúc tiến thương mại, thông tin và truyền thông; tài chính và đầu tư. Việc triển khai các giải pháp này nhằm từng bước nâng cao năng lực sản xuất trong nước, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và tăng khả năng tham gia thị trường quốc tế.
Hỗ trợ doanh nghiệp làm chủ công nghệ, mở rộng sản xuất
Về khoa học - công nghệ, Chương trình tập trung phát triển các công nghệ nền tảng và tiên tiến trong tổng hợp, chiết tách, tinh chế, công nghệ sinh học, peptit và các lĩnh vực hóa dược có khả năng tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao. Ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng thay thế nguyên liệu nhập khẩu, hình thành chuỗi sản xuất trong nước và phát triển sản phẩm xuất khẩu.
Doanh nghiệp được định hướng hỗ trợ tiếp nhận, làm chủ, hoàn thiện, mở rộng quy mô và chuyển giao công nghệ, ưu tiên quy trình sản xuất các hoạt chất có nhu cầu lớn, phục vụ sản xuất thuốc thiết yếu, có giá trị gia tăng cao hoặc khả năng thay thế hàng nhập khẩu. Chương trình cũng khuyến khích phát triển công nghệ, sản phẩm mới, tá dược thế hệ mới và các giải pháp tạo lợi thế cạnh tranh.
Về nhân lực, ưu tiên đào tạo chuyên sâu trong các lĩnh vực hóa học tổng hợp, hóa học quy trình, công nghệ sinh học, peptit, phân tích, GMP, bảo đảm và kiểm soát chất lượng (QA/QC), thẩm định, chuyển giao công nghệ, sản xuất thông minh, chuyển đổi số, an toàn hóa chất và quản trị công nghiệp.
Đồng thời, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và cơ sở nghiên cứu; khuyến khích đào tạo tại phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm quy mô pilot và cơ sở sản xuất, đáp ứng nhu cầu thực tế.
Trong hợp tác quốc tế, Chương trình ưu tiên các quốc gia có thế mạnh về sản xuất nguyên liệu đầu vào, hóa chất trung gian, hoạt chất, tá dược, công nghệ sinh học và công nghệ hóa dược tiên tiến. Việt Nam cũng sẽ tăng cường hợp tác về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm nghiệm, GMP, đánh giá sự phù hợp và công nhận, hướng tới nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu nguyên liệu làm thuốc và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
