Việt Nam phát triển công nghiệp sinh học nông nghiệp, hướng tới làm chủ công nghệ gen

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường, đặt mục tiêu đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen và từng bước đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu châu Á.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen. Ảnh minh họa: AI tạo

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen. Ảnh minh họa: AI tạo

Đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới

Kế hoạch xác định công nghiệp sinh học là nền tảng quan trọng, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Việt Nam sẽ tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và các sản phẩm công nghệ sinh học có quy mô công nghiệp, sức cạnh tranh cao, phục vụ nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và phát triển bền vững.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng các công nghệ này để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp, đáp ứng nhu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu.

Kế hoạch cũng hướng tới hình thành, phát triển thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường, đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, cung ứng dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.

Quy mô đầu tư và tăng trưởng của các doanh nghiệp công nghiệp sinh học được hình thành từ Kế hoạch phấn đấu tăng 70%. Sản phẩm công nghệ sinh học sản xuất trong nước hướng tới thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu cùng loại và đóng góp khoảng 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.

Để đạt mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm phát triển khoa học và công nghệ; xây dựng tiềm lực công nghiệp sinh học; phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; hoàn thiện cơ chế, chính sách; tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức.

Ứng dụng công nghệ gen trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản

Trong lĩnh vực trồng trọt và lâm nghiệp, Kế hoạch yêu cầu tập trung phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại để sản xuất giống cây trồng chủ lực có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và có khả năng cạnh tranh.

Các nhiệm vụ ưu tiên còn bao gồm phát triển công nghệ sau thu hoạch, chế phẩm sinh học thế hệ mới, bộ KIT chẩn đoán, giám định và quản lý sinh vật gây hại cây trồng; ứng dụng công nghệ đánh giá độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng, chất lượng nước tưới và môi trường phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.

Đối với chăn nuôi, thủy sản và thú y, Việt Nam sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen để chọn tạo giống vật nuôi, thủy sản có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu dịch bệnh và thích ứng với điều kiện môi trường bất lợi.

Kế hoạch định hướng phát triển vắc-xin, thuốc thú y sinh học, chế phẩm sinh học và bộ KIT phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch, chẩn đoán, xét nghiệm và giám sát dịch bệnh.

Cùng với đó, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để kiểm soát dư lượng chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc động vật, nâng cao sức đề kháng và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, thủy sản; tăng cường giám sát, cảnh báo và phòng, chống tình trạng kháng thuốc.

Hình thành chuỗi nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh quy mô công nghiệp

Kế hoạch định hướng hình thành, phát triển các doanh nghiệp công nghiệp sinh học nông nghiệp và môi trường ở quy mô công nghiệp.

Các lĩnh vực được ưu tiên gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh; thuốc bảo vệ thực vật sinh học; chế phẩm xử lý môi trường; thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh đó là các chế phẩm sinh học phục vụ bảo quản, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; vắc-xin phòng bệnh; thuốc thú y sinh học; bộ KIT chẩn đoán, xét nghiệm, giám sát dịch bệnh và kiểm soát dư lượng chất cấm.

Chuỗi nghiên cứu - sản xuất - kinh doanh sản phẩm công nghệ sinh học sẽ được phát triển đồng bộ theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và sức cạnh tranh trên thị trường.

Kế hoạch cũng yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia đầu ngành; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.

Qua đó, từng bước nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp và môi trường, đồng thời hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp sinh học.

Nhật Minh

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/viet-nam-phat-trien-cong-nghiep-sinh-hoc-nong-nghiep-huong-toi-lam-chu-cong-nghe-gen.html