Việt Nam và 'con đường độc đạo' kinh tế số
'Việt Nam không nên chọn mũi nhọn mà nên xây dựng nền tảng về kinh tế số cho toàn xã hội. Sự chuyển đổi về chất của nền kinh tế sang môi trường số sẽ thúc đẩy sự sáng tạo, giúp chúng ta dần thu hẹp khoảng cách, tiến tới bắt kịp các nước phát triển'.
GS. Hà Tôn Vinh, Chủ nhiệm Chương trình Giáo dục và đào tạo doanh nghiệp cao cấp của Đại học Tổng hợp California Miramar University tại Việt Nam, chuyên gia tư vấn cao cấp vùng châu Á của Ngân hàng Thế giới, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.

Kinh tế số là tương lai
KTSG: Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong những năm sắp tới, định hướng xác lập mô hình tăng trưởng mới, với một trọng tâm là kinh tế số đã được đặt ra. Ông bình luận như thế nào về lựa chọn này? Theo ông, nền kinh tế Việt Nam có lợi thế so sánh nào để có thể đặt kỳ vọng thành công nhờ kinh tế số?

- GS. Hà Tôn Vinh: Trước kia, người ta hay nói, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Vận vào kinh tế toàn cầu, thời điểm này, mọi con đường đều dẫn tới kinh tế số. Kinh tế số đã thâm nhập vào tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Chẳng hạn, trong nông nghiệp, với việc robot nhận diện và tự phun thuốc diệt cỏ bằng trí tuệ nhân tạo (AI); trong du lịch, với việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong đặt vé máy bay, đặt phòng; trong y tế, với danh bạ điện tử, việc tra cứu đơn thuốc và hướng dẫn sử dụng online; trong ngành giao thông - vận tải, với việc các ứng dụng đặt xe sử dụng công nghệ định vị GPS, AI; trong ngành thương mại là thương mại điện tử, nơi áp dụng hầu hết các công nghệ mới như AI, blockchain; rồi trong ngành tài chính - ngân hàng..., chứ không chỉ ở những biểu hiện bề ngoài mà ai cũng có thể nhắc đến theo cách tưởng như rất thông thạo là Shopee, Lazada, Grab...
Kinh tế số là mục tiêu, tương lai của kinh tế toàn cầu. Sự chuyển đổi sang kinh tế số đang diễn ra từng ngày từng giờ, mà biểu hiện rõ nhất là sự phổ biến và được chấp nhận ngày càng rộng khắp của tiền mã hóa. Những tiến bộ về khoa học công nghệ sẽ trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế số. Với mức độ cạnh tranh địa chiến lược và xu hướng phân cực ngày càng rõ rệt, cuộc chạy đua về công nghệ để giành ưu thế về kinh tế ngày càng khốc liệt và chúng ta sẽ phải nghĩ về những mô hình hoàn toàn mới trong kinh tế số, tương ứng với các đột phá công nghệ trong tương lai.
Kinh tế Việt Nam nằm trong dòng chảy của kinh tế thế giới, vậy nên, lựa chọn kinh tế số là cần thiết, bắt buộc, là con đường độc đạo mà chúng ta phải bước đi. Tương tự, chuyển đổi số là tất yếu, dù nhanh hay chậm, dù chủ động hay bị động, ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội.
Việt Nam có bốn lợi thế lớn.
Thứ nhất, con người Việt Nam nhanh nhạy, học nhanh. Theo các số liệu mới đây, tính tới tháng 1-2025, Việt Nam có 79,8 triệu người dùng Internet, tương ứng 78,8% dân số, khoảng 127 triệu kết nối di động đang hoạt động, tương đương 126% dân số, với tỷ lệ dùng điện thoại thông minh và thuê bao Internet di động là hơn 80%. Việt Nam nằm trong tốp 20 quốc gia có nhiều người dùng Internet nhất trên thế giới.
Thứ hai, Việt Nam nằm trong nhóm các nước nhanh nhạy trong tiếp cận các công nghệ mới nhất của Internet. Chúng ta đã phổ cập 4G, đang tiến tới 5G và tích cực nghiên cứu để ứng dụng 6G. Đây là hạ tầng thiết yếu để áp dụng các tiến bộ mới nhất của khoa học công nghệ như Internet vạn vật (IoT), thực tế ảo, xe tự hành, y tế từ xa...
Thứ ba, Việt Nam có sự ổn định, nhất quán trong các đường lối, chính sách kinh tế. Chúng ta quyết tâm chuyển đổi số, xác định kinh tế số là một trọng tâm, vì vậy, thể chế kinh tế, chính sách thu hút, ưu đãi, phát huy các nguồn lực cũng sẽ được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hướng tới mục tiêu này.
Thứ tư, ngay cả trong giai đoạn bất ổn thương mại toàn cầu, Việt Nam vẫn nhận được nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào hàng tốt nhất trong khu vực. Chúng ta được nhắm đến là một trong những mắt xích của chuỗi cung ứng thân thiện nhiều ngành, lĩnh vực, trong đó có ngành bán dẫn, đất hiếm. Những yếu tố trên tạo thành nền móng để từ đó, Việt Nam dựng lên kim tự tháp về kinh tế số cho chính mình.
KTSG: Dù chúng ta có quyết tâm, việc xác lập một mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi thế chế kinh tế, nhân lực, quản trị và công nghệ tương xứng. Việc thông qua nhiều luật liên quan tới kinh tế số như Luật Chuyển đổi số, Luật AI... góp phần như thế nào trong định hình thể chế cho kinh tế số, thưa ông?
- Đây là câu chuyện từ ý chí tới hành động thực tiễn để hiện thực hóa mục tiêu đề ra. Luật Chuyển đổi số, Luật AI, Luật Giao dịch điện tử... góp phần tạo dựng các trụ cột pháp lý cho kinh tế số. Trong trường hợp các luật chưa giải quyết hết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, việc ban hành các văn bản dưới luật hay sửa đổi luật sẽ được thực hiện kịp thời. Vấn đề cần quan tâm hơn là cơ chế thực thi các quy định của pháp luật về kinh tế số.
Mục tiêu nêu trên có thể đạt được dựa trên những tri thức về diện mạo trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của kinh tế số ở Việt Nam. Chúng ta cần xác định rõ, nội lực nên đầu tư vào nhiệm vụ gì, chúng ta nên tận dụng ngoại lực ra sao, việc bắt kịp các nước đi trước ở những ngành “thời thượng” của kinh tế số hay đi tắt đón đầu có khả thi hay không..., từ đó, đưa ra các ưu tiên về mặt nguồn lực và chính sách trên cơ sở khuôn khổ pháp lý đã ban hành hoặc có thể được bổ sung.
Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng. Luật Chuyển đổi số định nghĩa, kinh tế số là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số và mô hình vận hành số. Với xu hướng chuyển đổi số trong từng khía cạnh của đời sống, kinh tế số sẽ bao gồm tất cả hoạt động kinh doanh dựa trên nền tảng số, từ dịch vụ ăn uống, du lịch, các dịch vụ công tới các hoạt động thương mại và sản xuất. Sự bùng nổ của kinh tế số đòi hỏi các chính sách thực tế, thông thoáng, hiệu quả, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, khơi thông mọi điểm nghẽn để tận dụng nội lực, thu hút ngoại lực cho sự phát triển chung.
Việt Nam chọn đường nào?
KTSG: Nhiều ý kiến cho rằng, kinh tế số Việt Nam nên tập trung vào công nghiệp bán dẫn và thương mại điện tử. Quan điểm của ông như thế nào?
- Tôi đã có thời gian khoảng chín năm làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc). Thời đó, ở Đài Bắc, nhà nhà làm dây cáp, người người làm dây cáp. Sau đó, họ xuất khẩu công nghệ sang Trung Quốc để tận dụng ưu thế giá rẻ, về phần mình thì đầu tư vào các công nghệ cao hơn như chip bán dẫn. Những ông lớn như TSMC hay Nvidia xuất hiện ở Đài Loan là vì vậy.
Việt Nam là một trung tâm đóng gói và kiểm thử chip bán dẫn lớn của thế giới, đó cũng có thể coi là một nền tảng tốt để chúng ta đi sâu hơn vào ngành này. Mới đây, một doanh nghiệp Việt Nam công bố đã xuất khẩu lô chip nguồn dùng cho máy in đa chức năng đầu tiên sang Nhật Bản. Thành tựu này chứng tỏ doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được bước tiến nhất định trong ngành bán dẫn.
Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn thẳng vào hai vấn đề. Thứ nhất, năng lực của doanh nghiệp nội địa chưa thể chế tạo được các loại chip tiên tiến, chip AI. Thứ hai, số lượng doanh nghiệp có năng lực như doanh nghiệp vừa xuất khẩu lô chip nguồn nêu trên cũng không nhiều. Tham vọng trong ngành chip bán dẫn phải được thực hiện từng bước để “bắt kịp” các quốc gia phát triển trong một tương lai xa hơn.
Với lĩnh vực thương mại điện tử, nhiều học viên cao học của tôi đã trực tiếp tham gia các dự án sàn thương mại điện tử và đều chưa thành công. Từ góc độ sản xuất, Việt Nam chỉ có ưu thế trong lĩnh vực nông nghiệp, chưa thể cạnh tranh về hàng hóa tiêu dùng, đặc biệt so với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Từ góc độ cạnh tranh, các sàn thương mại điện tử lớn của Trung Quốc có kinh nghiệm, nguồn cung ứng hàng hóa, khả năng tối ưu hóa về công nghệ để thu hút người dùng... Làm một phần mềm về thương mại điện tử không khó nhưng để ứng dụng đó thu hút và thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng thì không hề đơn giản.
KTSG: Vậy chúng ta cần làm gì để chinh phục “con đường độc đạo” kinh tế số, thưa ông?
- Như đã đề cập, ở Việt Nam hiện tại, khi nói đến kinh tế số, đại đa phần người dân chỉ biết mặt biểu hiện của nó. Chúng ta biết Shopee, Lazada, chúng ta nghe đâu đó về blockchain, IoT... nhưng để ứng dụng kinh tế số vào mọi mặt của đời sống, phải hiểu được bản chất của nó. Các nhà quản lý cần có những chiến dịch truyền thông giúp người dân hiểu cách vận hành của kinh tế số trong các lĩnh vực cụ thể, từ y tế, giáo dục tới tài chính - ngân hàng, hoạt động dịch vụ và sản xuất. Từ sự hiểu đó dẫn đến sự chủ động trong chuyển đổi số, tạo nên sự bùng nổ của kinh tế số bắt đầu từ những khía cạnh nhỏ nhất của nền kinh tế.
Khi kinh tế số trở thành huyết mạch trong nền kinh tế, nền tảng cho cách nhìn khác, nghĩ khác, cho sự sáng tạo, bứt phá sẽ được hình thành. Cơ hội để kinh tế số Việt Nam “bắt kịp” thế giới trở nên rộng mở hơn.
KTSG: Việt Nam nên tận dụng nội lực, thu hút ngoại lực trong phát triển kinh tế số như thế nào? Xin ông phân tích cụ thể.
- Muốn “bắt kịp” các nước đi trước, “đi tắt đón đầu”, Việt Nam phải đi nhanh hơn các nước trong kinh tế số. Thông thường, để đạt được điều này, cần phải có hoặc nguồn lực cực lớn, có thể nhập khẩu chất xám hoặc công nghệ; hoặc tự sáng tạo ra công nghệ; hoặc có nhân lực để tạo ra công nghệ. Với điều kiện của Việt Nam hiện tại, cả ba yếu tố này đều chưa thực sự mạnh.
Nội lực của chúng ta nên tập trung vào việc tạo nên “sự bùng nổ” trong kinh tế số, đặc biệt ở các lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh như y tế, du lịch... Nghĩa là, không nên chọn mũi nhọn mà ưu tiên xây dựng nền tảng của toàn xã hội. Vậy nên, đầu tư quan trọng nhất trong giai đoạn khởi đầu này là đầu tư vào con người, vào sự hiểu biết, tri thức tạo đà bứt phá cho kinh tế số.
Quá trình chuyển đổi số càng sâu rộng và ở tầng nấc cao hơn thì càng đòi hỏi nhu cầu nhân lực chất lượng cao. Đầu tư công của nhà nước vừa giúp hình thành đội ngũ nhân lực này, vừa khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào nâng cao chất lượng lao động, phục vụ cho doanh nghiệp của họ.
Chúng ta có thể tham khảo bài học của nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc. Ngay từ thập niên 1980 của thế kỷ trước, hàng năm, Trung Quốc đều gửi số lượng lớn du học sinh sang Mỹ để theo đuổi các ngành khoa học và kỹ thuật. Động thái từ Chính phủ Trung Quốc, sự mở cửa của thị trường Mỹ với du học sinh nước này đã thu hút nguồn lực xã hội hóa khổng lồ, người người nhà nhà đều cố gắng gửi con sang Mỹ. Ban đầu, tỷ lệ du học sinh trở về không cao, năm 2003 là khoảng 30%, nhưng càng ngày con số này càng cao.
Tính đến thời điểm này, không những Trung Quốc đã xây dựng được đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học có thể cạnh tranh với Mỹ và các nước phát triển mà lực lượng Hoa kiều đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong các phòng thí nghiệm, các trung tâm đổi mới sáng tạo, các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu của Mỹ cũng rất hùng hậu. Việt Nam đừng đặt quá nặng bài toán đi và trở về. Người Việt Nam ở bất cứ quốc gia nào, làm việc ở vị trí nào đều bằng cách này cách kia đóng góp được cho đất nước.
Với các ngành công nghệ cao như ngành bán dẫn, chúng ta vẫn cố gắng duy trì vị thế là điểm đến ổn định, hấp dẫn của các ông lớn công nghệ nước ngoài. Các tập đoàn bán dẫn xây dựng nhà máy và thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Việt Nam có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa cùng ngành tiến dần lên.
Việt Nam cũng nên tận dụng sự ưu ái của các ông lớn TSMC hay Nvidia trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, thông qua các học bổng toàn phần, bán phần hay các chương trình trao đổi - học tập, nâng cao trình độ kỹ năng cho lao động trong ngành. Những doanh nghiệp có thực lực nên được khuyến khích, hỗ trợ tìm kiếm thị trường, để chế tạo, sản xuất, phân phối các sản phẩm bán dẫn có độ khó trung bình, không còn là ưu tiên sản xuất của các doanh nghiệp lớn. Đó là cách tiến chắc, để tiến xa.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/viet-nam-va-con-duong-doc-dao-kinh-te-so/














