Việt Nam vượt 'gió ngược', tạo đà cho kỳ vọng tăng trưởng hai con số
Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 được phác họa bằng những con số cho thấy 'khả năng chống chịu' và thích ứng linh hoạt trước các 'cơn gió ngược' từ kinh tế toàn cầu. Nền tảng ổn định ấy đang tạo lực đẩy quan trọng, tiếp thêm niềm tin và dư địa để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.

Việt Nam đã chứng minh “khả năng chống chịu” trước các "cơn gió ngược" từ biến động kinh tế thế giới.
Năm 2025: Chứng minh khả năng chống chịu
Năm qua, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều điểm sáng tích cực. Số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 6/1 cho thấy, GDP Việt Nam ước tăng 8,02% so với năm trước, mức tăng cao thứ hai trong giai đoạn 2011-2025, chỉ sau năm 2022. Hoạt động sản xuất công nghiệp tăng trưởng tốt với chỉ số IIP (Chỉ số sản xuất công nghiệp) tăng 9,2%.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục đóng vai trò ngày càng rõ nét trong tăng trưởng. Năm 2025, các hoạt động khoa học công nghiệp đóng góp trực tiếp khoảng 1,68% GDP và gián tiếp khoảng 0,81%, nâng tổng đóng góp lên gần 2,5% GDP, tương đương 320,4 nghìn tỷ đồng. Con số này tăng 16,3% so với năm 2024 và cao hơn khoảng 51% so với năm 2020. Trên bình diện quốc tế, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025, đứng thứ 3 ASEAN, sau Singapore và Malaysia. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm trước, cho thấy dư địa cải thiện còn lớn.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2%; nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 6,7%. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%. Thu hút FDI duy trì ổn định với tổng vốn đăng ký 38,42 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%.
Cân đối ngân sách tiếp tục tích cực khi thu ngân sách Nhà nước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, vượt xa dự toán; chi ngân sách được kiểm soát trong giới hạn cho phép. Xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17%, trong khi CPI (chỉ số giá tiêu dùng) tăng 3,31%, hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát do Quốc hội đề ra.

Năm 2025, dân số Việt Nam đạt 102,3 triệu người, tăng 0,99%. Lao động, việc làm và thu nhập tiếp tục cải thiện. Tính chung năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 1,1% so với năm trước; năng suất lao động đạt 245 triệu đồng/lao động, tăng 6,83%. Gần 297,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động, vốn bổ sung vào nền kinh tế tăng 77,8%.
Những con số này đã thể hiện bản lĩnh của nền kinh tế Việt Nam trước sóng gió, tạo tiền đề bứt phá mạnh mẽ cho giai đoạn 2026 với những cơ sở thực tế để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số ở một số kịch bản lạc quan.
Đà của tăng trưởng 2 con số trong 2026
TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng nhận định, dù đối mặt với đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, biến đổi khí hậu cực đoan và sự phân mảnh địa chính trị, kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững ổn định vĩ mô.
Tăng trưởng GDP quốc gia năm 2025 đạt 8,02%. Nhưng thực tế cho thấy những tín hiệu tích cực cho 2026 khi thu nhập trung bình cao đang dần hiện hữu. Cơ sở cho sự bứt phá này theo TS. Võ Trí Thành nằm ở việc duy trì lạm phát thấp, hệ thống tài chính - ngân hàng an toàn và các cân đối lớn được đảm bảo. Đặc biệt, "dư địa tài khóa" còn khá tốt khi nợ công dưới 36% GDP là nguồn lực dự trữ quan trọng để kích cầu và đầu tư công khi cần thiết.
Nền tảng thể chế vững chắc đã được Việt Nam chủ động xây dựng từ năm 2025 với "Bộ tứ chiến lược" thông qua các Nghị quyết quan trọng về thể chế, kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế (Nghị quyết 57, Nghị quyết 59, Nghị quyết 66, Nghị quyết 68) và các Nghị quyết về giáo dục đào tạo, đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân (Nghị quyết 70, 71, 72).

TS. Võ Trí Thành: "Dư địa tài khóa" còn khá tốt khi nợ công dưới 36% GDP là nguồn lực dự trữ quan trọng để kích cầu và đầu tư công khi cần thiết trong 2026.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh kết cấu hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng số và hạ tầng năng lượng, cùng với việc thành lập các trung tâm tài chính (IFC) tại TP HCM và Đà Nẵng chính là những "cú hích" để thay đổi cấu trúc nền kinh tế, chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới chất lượng hơn.
Trên cơ sở đó, để Việt Nam có thể hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số vào năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, TS. Võ Trí Thành chỉ ra những cơ sở cốt lõi.
Thứ nhất, chuyển đổi "kép" - chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây không còn là lựa chọn mà là con đường bắt buộc. Việc bắt kịp với chuyển đổi kép sẽ tạo ra các phương thức tăng trưởng mới, hiệu quả và bền vững hơn.
Thứ hai, khai thác các FTA thế hệ mới, giúp tận dụng hiệu quả RCEP, CPTPP và nâng cấp các FTA ASEAN+1 để mở rộng thị trường. Việt Nam đang định vị mình là một "nền kinh tế rất mở" với kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP vượt mức 165%.
Thứ ba, cải cách thể chế và bộ máy, tinh gọn, đổi mới quản trị nhà nước theo hướng linh hoạt và bao trùm sẽ giải phóng nguồn lực đang bị kẹt.
Thứ tư, đổi mới sáng tạo và kinh tế số dự kiến sẽ đóng góp đáng kể vào GDP (mục tiêu 20% vào 2025 và cao hơn sau đó). Đây chính là động lực có khả năng tạo ra sự tăng trưởng theo cấp số nhân.
Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cũng phân tích, ở các nền kinh tế tăng trưởng cao, vốn thường đóng góp khoảng 40-50%, lao động 6-10%, còn năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bao gồm khoa học công nghệ, kỹ năng và cải cách, chiếm 35-50%. Với Việt Nam nhiệm kỳ qua, vốn đóng góp khoảng 50%, lao động 6-8%, TFP 42-44%. Mục tiêu nâng tỷ trọng TFP lên trên 50% trong nhiệm kỳ tới là rất tham vọng và đầy thách thức, nhất là khi kinh tế toàn cầu đang có xu hướng chậm lại, trong khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn.

TS. Cấn Văn Lực: Cần tập trung mạnh vào nâng cao năng suất lao động để tạo đột phá cho tăng trưởng 2026.
Từ đó, theo TS. Cấn Văn Lực, cơ sở để tăng trưởng hai con số là triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới được Quốc hội ban hành, đặc biệt là khoảng 7-8 nghị quyết mang tính nền tảng. Về đột phá trong năm 2026, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần tập trung mạnh vào nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, phải phát huy các động lực tăng trưởng mới, trong đó có việc đo lường, lượng hóa chính xác kinh tế số, kinh tế AI và kinh tế dữ liệu, lĩnh vực hiện còn nhiều tranh luận.
TS. Lực cũng nhấn mạnh yêu cầu cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, gắn với cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhằm củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đồng thời, cần tháo gỡ kịp thời các nút thắt đối với tăng trưởng và an sinh xã hội, nhất là những vướng mắc phát sinh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Điểm chung trong nhận định của các chuyên gia là để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới, vai trò của các doanh nghiệp nhà nước “sếu đầu đàn” mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với quy mô vốn lớn, năng lực quản trị hiện đại, khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và sức lan tỏa mạnh mẽ, các doanh nghiệp nhà nước tiên phong không chỉ tạo ra động lực tăng trưởng trực tiếp mà còn kéo theo sự phát triển của khu vực tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế.












