Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt tới 21 thị trường
Quý I/2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam tới 21 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Hồng Kông (Trung Quốc) là thị trường nhập khẩu thịt lớn nhất
Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, quý I/2026, Việt Nam xuất khẩu 4,6 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 33,32 triệu USD, giảm 13,7% về lượng, nhưng tăng 11,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 3 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang 21 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,62% về lượng và 50,73% về trị giá trong tổng xuất khẩu, đạt 1,8 nghìn tấn, trị giá 16,9 triệu USD, giảm 36,2% về lượng và giảm 14,2% về trị giá so với 3 tháng năm 2025. Trong đó, thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc).

Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,62% về lượng và 50,73% về trị giá trong tổng xuất khẩu. Ảnh minh họa
Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam sang một số thị trường khác cũng giảm so với cùng kỳ năm 2025 như: Canada, Malaysia, Hàn Quốc, Hà Lan... Trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường trong 3 tháng năm 2026 tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2025, gồm: Trung Quốc, Pháp, Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Campuchia....
Quý I/2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 43,8% về lượng và chiếm 54,53% về trị giá; thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,02 về lượng và chiếm 29,84% về trị giá; thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,71% về lượng và chiếm 13,98% về trị giá...
Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, đạt 2,02 nghìn tấn, trị giá 18,17 triệu USD, giảm 18,8% về lượng và giảm 1,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 21,3% về lượng và giảm 6,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 17 thị trường
Dẫn số liệu của Cục Hải quan cho thấy, 3 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 223,14 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 652,75 triệu USD, tăng 4,2% về lượng và tăng 25,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 3 tháng năm 2026, Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 23,13% về lượng, đạt 51,6 nghìn tấn, trị giá 208,47 triệu USD, tăng 21,9% về lượng và tăng 43,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như: Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản... Tuy nhiên, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Nga, Brazil, Hàn Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Argentina, Iran...
Các chủng loại thịt chủ yếu nhập khẩu về Việt Nam gồm: thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 39,27% về lượng và chiếm 13,95% về trị giá; thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 21,42% về lượng và chiếm 30,35% về trị giá; thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 12,53% về lượng và chiếm 9,32% về trị giá; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 16,1% về lượng và chiếm 7,6% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 6,45% về lượng và chiếm 14,31% về trị giá; các mặt hàng khác chiếm 4,23% về lượng và chiếm 24,47% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt về Việt Nam.
Quý I/2026, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh vào Việt Nam đạt 27,9 nghìn tấn, trị giá 60,82 triệu USD giảm 21,1% về lượng và giảm 34,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 3 tháng năm 2026 ở mức 2.162 USD/ tấn, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 17 thị trường, trong đó Nga vẫn là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 34,25% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước; Brazil chiếm 20%; Tây Ban Nha chiếm 26,09%; Đức chiếm 7,79%; Hà Lan chiếm 3,13%; các thị trường khác chiếm 8,74%.
Trong tháng 4/2026, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm trong những ngày đầu tháng, sau đó phục hồi vào cuối tháng, dao động trong khoảng 64.000 - 69.000 đồng/kg. Cụ thể: Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 64.000 - 66.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá giảm từ 1.000 - 7.000 đồng/kg, giữa tháng tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg, sau đó giảm nhẹ, nhưng đến những ngày cuối tháng tăng 1.000 đồng/kg so với tháng 3/2026.Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 66.000 - 69.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá giảm từ 1.000 - 6.000 đồng/kg, sau tăng 1.000 - 3.000 đồng/kg so với những ngày cuối tháng 3/2026. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 68.000 - 69.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá giảm từ 1.000 - 4.000 đồng/kg, sau tăng 1.000 - 3.000 đồng/kg so với những ngày cuối tháng 3/2026.











