Vó ngựa thời gian
Văn hóa dân tộc Việt Nam gắn với ngựa cũng đã trải dài hàng ngàn năm trên khắp đất nước với nhiều địa điểm, gắn với ký ức của nhiều thế hệ, nhiều cộng đồng dân tộc. Trong sự phát triển của văn hóa và đời sống thời đại mới, ngựa có những đóng góp đáng kể trong đời sống, văn hóa, kinh tế.

Ngựa được sử dụng trong các triều đại phong kiến của nước ta. Ảnh: Tư liệu
Vó ngựa Việt trong dòng chảy ngàn năm
Từ thuở lập nước, ngựa đã gắn với đời sống cư dân Việt cổ với câu chuyện ngựa sắt của Đức Thánh Tản Viên dẹp giặc Ân. Con ngựa sắt đã cùng Thánh Gióng đánh giặc giữ nước, rồi bay về trời. Ngày nay, người dân Việt Nam khi đi qua Sóc Sơn (Hà Nội), nhìn lên pho tượng Thánh Gióng phi ngựa chiến về trời mới được xây dựng trên đỉnh núi cao vút, mới thấy hết được sức mạnh của con tuấn mã. Suốt mấy ngàn năm, những giai thoại gắn với ngựa của người Việt đều mang dáng dấp hào hùng. Tục truyền, vua Lý Thái Tổ (1010-1028) xây thành Thăng Long cứ bị lún, đổ. Xây mãi không được. Vua phải sai các quan đến cầu đảo tại đền Long Đỗ. Lễ vừa xong thì có một con ngựa trắng (Bạch Mã) từ trong đền đi ra, chạy một vòng, rồi trở về đền. Vua bèn hạ lệnh xây thành theo dấu chân ngựa chạy. Thành Thăng Long được hoàn thành. Vua phong Bạch Mã là Tối linh Thượng đẳng thần, Thành hoàng của thành Thăng Long. Năm 1422, vua Lê Lợi thu binh trở về núi Chí Linh, quân sĩ tuyệt lương hơn hai tháng, chỉ đào rễ cây, hái rau và măng để ăn đỡ đói mà thôi. Vua Lê Lợi sai làm thịt 4 thớt voi và cả ngựa của mình cưỡi để nuôi quân sĩ, sau đó làm nên những đại công.
Từ cổ chí kim, nhiều võ tướng, danh tướng luôn được tái hiện rất dũng mãnh trong hình ảnh cưỡi ngựa xông pha trận mạc, mà điển hình như hình ảnh Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Ở chiến trường, vai trò của ngựa sánh ngang với con người, ngựa được coi là chiến mã và bảo mã là sinh mệnh của võ tướng. Người Việt luôn ý thức được vai trò, sức mạnh của ngựa trong chiến đấu. Các triều đại phong kiến Việt Nam ý thức rõ sức mạnh và tầm quan trọng của ngựa nên đặt ra cơ quan để chăm sóc, nuôi dưỡng và huấn luyện đó là Viện Mã chính.
Ngựa không chỉ xuất hiện với hình ảnh chiến chinh, mà còn đi vào thơ ca, nhạc họa, điêu khắc, tạc tượng với những tác phẩm xuất sắc xuyên qua thời đại. Hình tượng con ngựa được thể hiện sớm nhất trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam là loại tượng tròn ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) vào khoảng giữa thế kỷ XI. Nhóm tượng Phật cũng như tượng voi, ngựa ở đây được xem là những tác phẩm điêu khắc đá vào loại đẹp nhất nước ta, các bộ phận, các đường nét được thể hiện khá hiện thực và trau chuốt. Trong các lăng vua mộ Lê ở Lam Kinh có khá nhiều tượng ngựa đá. Đến thế kỷ XVII và nhất là thế kỷ XIX phổ biến loại tượng ngựa mồ, gắn với thực tế, có yên cương đầy đủ. Tượng ngựa điển hình như tại các khu lăng tẩm Huế. Ngựa mồ được thể hiện cặp đôi nghiêm trang đứng chầu vào đường linh đạo.
Ngựa ngự trị trong tín ngưỡng dân gian ở những miếu thờ, điện thờ trong nhà, hay gốc đa, gốc me, hốc đá ngoài đường luôn có vài con ngựa đá hoặc ngựa giấy để các ngài dùng làm phương tiện di chuyển. Cùng với đó là nhiều làng nghề truyền thống làm ngựa giấy ở các nơi cũng đã có hàng trăm năm tuổi. Không chỉ tượng, ngựa còn được thể hiện trên các diềm điêu khắc bằng gỗ trong một số đình miếu trên miền Bắc hay miền Trung. Tại tháp Chàm Khương Mỹ, gần chân tháp trang trí một con ngựa có người cưỡi cùng hai bánh xe được thể hiện khá hiện thực. Người cưỡi ngựa đầu đội mũ, mặc quần áo Chăm khá đẹp. Có thể thấy, từ đền miếu, đình làng đến lăng mộ, ngựa là hình tượng được thể hiện một cách khéo léo thành những tác phẩm tạo hình, tác phẩm điêu khắc phản ánh những mong ước của con người trong cuộc sống thường nhật.
Trong văn học nghệ thuật, ngựa xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ với những câu như “thẳng ruột ngựa”, “mã đáo thành công”, “tái ông thất mã”, “giữa đường ngã ngựa”, “quất ngựa truy phong”, “ngựa bất kham”... Hay trong đời sống hằng ngày, chiếc xe đạp biểu tượng cho sự nhanh chóng được gọi là “con ngựa sắt”. Ai vô phúc phải đáo tụng đình (đến tòa án), thì sẽ được biết vành móng ngựa. Trong nhiều tác phẩm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, các bài thơ nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan đều xuất hiện hình ảnh ngựa. Ngay cả trong âm nhạc dân gian cũng gắn liền với ngựa như những làn điệu Lý ngựa ô.

Tem bưu chính phát hành năm 1961, với hình ảnh chiến sĩ trên lưng ngựa (bên trái) và tem bưu chính phát hành năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng, khắc họa hình ảnh người lính Biên phòng cùng đồng bào dân tộc thiểu số cưỡi ngựa tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Tư liệu
Ngựa gắn liền với nhịp sống hiện đại
Qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ, hình ảnh từng đoàn ngựa thồ chở lương thực, vũ khí ra chiến trường, làm phương tiện để thông tin liên lạc đã phục vụ đắc lực cho việc chiến đấu, đồng thời đảm bảo lương thực, vũ khí, khí tài cho chiến trường, góp phần đem lại chiến thắng vẻ vang và giành độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Ngựa phân bố rải rác khắp cả nước như ngựa Bắc Hà, ngựa Phú Yên, ngựa Đà Lạt, ngựa cỏ miền Nam, chủ yếu sử dụng vào việc thồ, kéo phù hợp với địa hình hiểm trở, thích nghi với khí hậu, chống chịu được bệnh tật. Dẫu không còn được sử dụng nhiều như những thời đại trước, nhưng hình ảnh con ngựa trong cuộc sống đời thường vẫn in đậm nét trong tâm thức người Việt. Trên các bản làng miền núi, trên các cao nguyên, dưới những vùng gò đồi bán sơn địa, đi các phiên chợ tình, dễ dàng gặp các đôi bạn thanh niên diện những bộ quần áo thổ cẩm nhiều màu sắc cưỡi ngựa vượt đèo, hay những chiếc xe thổ mộ ngựa kéo lọc cọc trên những con đường rải đá chạy quanh xóm làng.
Hiện nay, ngựa được nuôi dưỡng và nhân giống tại nhiều nơi để phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau. Như trại ngựa Suối Dầu ở Khánh Hòa được nuôi để phục vụ y học. Tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi ở Thái Nguyên, chỉ tính những năm gần đây, đã có trên 20.000 con ngựa lai từ trung tâm được chuyển giao cho nông dân các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang… Hay tại thảo nguyên Khau Sao (Lạng Sơn) là nơi chăn thả hơn 1.700 con ngựa, trong đó có hơn 700 con ngựa bạch thuần chủng nguồn gốc từ Việt Nam…
Mỗi mùa Xuân về, trên khắp các cao nguyên Langbiang, Gò Thì Thùng, cao nguyên trắng Bắc Hà..., những chú ngựa lại làm sống dậy văn hóa của dân tộc. Những vó ngựa theo thời gian cứ gõ vào đất, cùng nhịp trống trận oai hùng ngàn năm, cùng nhịp hò reo muôn người mùa lễ hội mạnh mẽ tiến bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.
Trong đời sống văn hóa Việt Nam, ngựa đã trở thành hình tượng đẹp. Ngựa không chỉ giúp xây dựng và bảo vệ đất nước, mà còn là công cụ lao động tạo ra của cải vật chất, vừa là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu thuốc quý. Ngựa còn là một trong những con vật chính được sử dụng trong mỗi dịp năm mới Xuân về ở các lễ hội văn hóa như tham gia trong đoàn rước, ngựa đua trong các hội đua ngựa truyền thống của các dân tộc vùng cao.
Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/vo-ngua-thoi-gian-post500785.html











