Vợ qua đời sau khi mua bảo hiểm 150 triệu/năm, chồng vất vả đòi DN trả gần 6,5 tỷ

Sau khi vợ qua đời, người chồng bị công ty bảo hiểm từ chối chi trả gần 6,5 tỷ đồng vì cho rằng hồ sơ kê khai sức khỏe không trung thực. Tuy nhiên, cả hai cấp tòa đều đưa ra phán quyết bất ngờ.

Vay vốn ngân hàng nhưng buộc phải mua bảo hiểm 150 triệu đồng/năm

Anh Việt Huỳnh Đ. là chồng của chị Nguyễn Thị Kim N. và hai người có 3 con chung. Cuối tháng 3/2022, vợ chồng anh Đ. đến Ngân hàng V1. - Chi nhánh tỉnh B. vay vốn. Theo trình bày của anh Đ., để được giải ngân khoản vay, phía ngân hàng yêu cầu vợ chồng anh tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của Công ty TNHH B1. với mức phí 150 triệu đồng/năm.

Ngày 31/3/2022, anh Đ. và chị N. ký hợp đồng vay vốn. Cùng ngày, chị N. ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, anh Đ. là người thụ hưởng 100%. Hợp đồng có mức phí bảo hiểm 150 triệu đồng/năm, quyền lợi bảo hiểm cơ bản lên tới gần 6,5 tỷ đồng và có hiệu lực từ ngày 31/3/2022 đến ngày 31/3/2091.

Đến ngày 21/10/2022, khi hợp đồng vẫn còn hiệu lực, chị N. qua đời do đột quỵ. Sau đó, anh Đ. gửi hồ sơ yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi theo hợp đồng.

Sau khi vợ qua đời, người chồng bị công ty bảo hiểm từ chối chi trả gần 6,5 tỷ đồng với lý do kê khai sức khỏe không trung thực. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Sau khi vợ qua đời, người chồng bị công ty bảo hiểm từ chối chi trả gần 6,5 tỷ đồng với lý do kê khai sức khỏe không trung thực. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Tuy nhiên, công ty bảo hiểm từ chối thanh toán gần 6,5 tỷ đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng chị N. đã cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm khi trả lời “không” đối với các câu hỏi về việc từng nhập viện, thực hiện các xét nghiệm, siêu âm, điện tâm đồ cũng như tiền sử các bệnh thuộc hệ tim mạch, trong đó có bệnh van tim, nhồi máu cơ tim.

Theo công ty bảo hiểm, hồ sơ bệnh án từ các lần chị N. sinh con tại Trung tâm Y tế huyện B. và Bệnh viện P1. trong giai đoạn 2017-2021 đều ghi nhận tiền sử “hở van tim 2 lá”. Ngoài ra, năm 2019, chị N. cũng từng khám sức khỏe tại Bệnh viện A. cũng ghi nhận tiền sử mắc bệnh này.

Căn cứ các tài liệu này và quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, điều khoản hợp đồng, công ty bảo hiểm cho rằng, chị N. đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, nên không chấp nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm mà chỉ đồng ý hoàn trả khoản phí bảo hiểm đã đóng là 150 triệu đồng cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chị.

Không đồng ý với quyết định này, anh Đ. khởi kiện yêu cầu công ty bảo hiểm thanh toán toàn bộ số tiền bảo hiểm gần 6,5 tỷ đồng theo hợp đồng.

Lý do tòa buộc công ty bảo hiểm phải trả gần 6,5 tỷ đồng

Sau bản án sơ thẩm tháng 9/2025, TAND khu vực 8 - Vĩnh Long chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đ., buộc công ty bảo hiểm phải chi trả số tiền bảo hiểm gần 6,5 tỷ đồng.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, phía bảo hiểm kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Xem xét vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định hợp đồng bảo hiểm được giao kết trên cơ sở tự nguyện, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật nên có hiệu lực.

Đối với lý do từ chối chi trả của công ty bảo hiểm, tòa cho rằng chị N. và anh Đ. tìm đến ngân hàng để vay vốn phục vụ kinh doanh chứ không xuất phát từ nhu cầu chủ động mua bảo hiểm nhân thọ.

Theo Hội đồng xét xử, trong quá trình hoàn tất thủ tục vay vốn, chị N. phải đồng thời ký nhiều tài liệu, trong đó bộ hồ sơ bảo hiểm gồm hơn 60 trang với các quy tắc, điều khoản và hồ sơ yêu cầu bảo hiểm do doanh nghiệp soạn sẵn. Vì cần sớm hoàn tất thủ tục vay vốn nên chị N. không có nhiều thời gian nghiên cứu toàn bộ nội dung.

Tòa cũng nhận định chị N. không phải người có chuyên môn y khoa nên việc tích vào các ô trả lời trong hồ sơ bảo hiểm là theo sự hiểu biết của bản thân.

Đáng chú ý, Hội đồng xét xử cho rằng, nếu nghi ngờ tình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn có quyền yêu cầu khách hàng khám sức khỏe trước khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm đã không thực hiện thì phải tự gánh chịu hậu quả, không thể đổ lỗi cho bên mua bảo hiểm.

Ngoài ra, các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện từ năm 2017 đến năm 2021, chị N. nhập viện chủ yếu để sinh con, không phải điều trị bệnh tim mạch. Việc chị từng khám tại Bệnh viện A. cũng chỉ nhằm khám sức khỏe tổng quát.

Mặc dù trong hồ sơ sản khoa có ghi tiền sử “hở van tim”, nhưng Hội đồng xét xử xác định đây chỉ là thông tin do thân nhân khai báo khi nhập viện, không phải kết luận chuyên môn xác định chị N. mắc bệnh hở van tim.

Bên cạnh đó, công ty bảo hiểm cũng không chứng minh được trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, chị N. từng được chẩn đoán hoặc điều trị bệnh hở van tim 2 lá hay bệnh lý tim mạch.

Theo hồ sơ bệnh án điều trị cuối cùng, nguyên nhân chị N. nhập viện được xác định là suy hô hấp cấp.

Từ đó, Hội đồng xét xử kết luận không có căn cứ xác định chị N. đã kê khai không đầy đủ hoặc không trung thực về tình trạng sức khỏe khi tham gia bảo hiểm. Vì vậy, công ty bảo hiểm không có cơ sở để đơn phương đình chỉ hợp đồng và từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm.

Phía công ty bảo hiểm viện dẫn án lệ liên quan đến việc không kê khai bệnh hiểm nghèo để bảo vệ quan điểm của mình. Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm cũng cho rằng bệnh hở van tim 2 lá không thuộc danh mục bệnh hiểm nghèo theo Thông tư số 50/2024 của Bộ Y tế nên việc công ty bảo hiểm viện dẫn án lệ để làm căn cứ đình chỉ hợp đồng là không phù hợp.

Do không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh việc chị N. kê khai gian dối, kháng cáo của công ty bảo hiểm không được chấp nhận.

Từ đó, TAND tỉnh Vĩnh Long quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc công ty bảo hiểm chi trả cho anh Việt Huỳnh Đ. số tiền bảo hiểm gần 6,5 tỷ đồng theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã ký.

(Bài viết dựa trên Bản án số 316/2026/DS-PT ngày 31/3/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long)

Nguyễn Lê

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/vo-qua-doi-sau-khi-mua-bao-hiem-150-trieu-nam-chong-di-kien-doi-gan-6-5-ty-dong-2537926.html