Xã biên giới Tam Lư bảo vệ rừng gắn với nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp
Lên thăm bản Hậu - bản NTM kiểu mẫu của xã biên giới Tam Lư, chúng tôi được ông Hà Văn Nhượng, bí thư chi bộ, trưởng bản cho biết: Bản Hậu phần lớn là người Thái. Khai thác tiềm năng đồi rừng, Đảng ủy, UBND xã Tam Lư đã lãnh đạo, chỉ đạo bản Hậu bảo vệ và phát triển rừng gắn với bảo vệ phên dậu Tổ quốc. Đến đầu tháng 3/2026, bản Hậu đã trồng được 268ha vầu, 138ha luồng, cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Do bảo vệ, chăm sóc đúng kỹ thuật, măng khỏe, mọc nhiều. Hầu hết các hộ dân trong bản đều có nguồn thu ổn định từ vầu và luồng, bình quân khoảng 20 triệu đồng/ha/năm.

Rừng luồng tại xã Tam Lư được bảo vệ, chăm sóc đúng kỹ thuật, phát triển tốt.
Đồng chí Phạm Bá Chiến, Chủ tịch UBND xã Tam Lư, cho biết: Đến tháng 3/2026, xã Tam Lư có 4.145,46ha rừng tự nhiên, 10.310,5ha rừng sản xuất; trong đó có hơn 3.919,4ha rừng vầu, 1.909ha rừng luồng phát triển tốt. Toàn xã có 15 cơ sở chế biến lâm sản, không những thu mua nguyên liệu cho người dân mà còn giải quyết việc làm, thu nhập ổn định cho khoảng 200 lao động trực tiếp và 600 lao động gián tiếp. Để bảo vệ rừng (BVR) tận gốc, xã Tam Lư đã ban hành các văn bản thực hiện tốt Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Rà soát, bổ sung phương án BVR và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng. Xây dựng các tổ, đội BVR tại thôn, bản, đặc biệt chú trọng những vùng trọng điểm có nguy cơ mất an ninh rừng. Cùng với xã hội hóa công tác BVR, xã Tam Lư đã và đang chủ động triển khai các giải pháp hình thành các vùng trồng rừng sản xuất, lâm sản hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh với quy mô lớn, gắn trồng rừng với chế biến và thị trường tiêu thụ lâm sản, nâng cao hiệu quả sản xuất, sử dụng rừng, thu hút và tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động làm nghề rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. Trọng tâm là thay đổi nhận thức, cũng như cách làm của bà con trong việc trồng và chăm sóc rừng vầu, luồng. UBND xã Tam Lư đã phối hợp với các ngành chức năng xuống thôn, bản phổ biến, tuyên truyền chính sách hỗ trợ phát triển vùng luồng, vầu thâm canh; tập huấn kỹ thuật chăm sóc, bón phân phục tráng rừng vầu, luồng. Xây dựng các mô hình HTX sản xuất, kinh doanh luồng, vầu, tạo vùng nguyên liệu tập trung để kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vốn, khoa học - kỹ thuật thâm canh, phát triển rừng luồng và vầu bền vững, hiệu quả.
Đối với 723ha rừng vầu bị khuy (chết khô), xã đã hướng dẫn người dân vệ sinh rừng vầu, phát dọn thực bì, thu gom cây chết để tránh lây lan mầm bệnh. Vận động chủ rừng bón bổ sung phân hữu cơ, chăm sóc và trồng dặm lại những diện tích bị chết. Một số diện tích đã được bà con phát dọn, chăm sóc lại, cây vầu mới trồng bắt đầu phục hồi. Người dân đã chủ động chăm sóc, bảo vệ và khôi phục vùng vầu, góp phần ổn định sản xuất lâm nghiệp tại địa phương.
Hiện nay, xã Tam Lư có 100ha rừng vầu và trên 450ha rừng luồng đã được người dân thâm canh, phục tráng. Cây luồng được bón phân, măng to hơn và gióng dài hơn, giá trị cây luồng đã được nâng lên, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Gần 963,41ha rừng luồng và 630,86ha rừng vầu của xã đã được Tổ chức Quản lý rừng bền vững quốc tế cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), góp phần nâng cao giá trị cây luồng, tăng thu nhập cho nhiều nông dân trồng luồng và doanh nghiệp chế biến lâm sản.
Thực hiện chính sách phát triển vùng luồng và vầu thâm canh đã nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và người dân địa phương trong việc quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác bền vững rừng luồng. Người dân chủ động thâm canh, bón phân và chăm sóc rừng luồng đúng kỹ thuật. Nhờ tích cực trồng và BVR luồng, vầu, người dân xã Tam Lư có thêm việc làm và nguồn thu nhập tại chỗ, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, thúc đẩy chương trình XDNTM. Kết quả nổi bật hiện nay là toàn bộ diện tích rừng của xã Tam Lư được bảo vệ an toàn, không xảy ra cháy rừng, phá rừng trái phép. Diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt đã và đang được phục hồi, phát triển ổn định. An ninh rừng trên địa bàn được giữ vững.
Tuy nhiên, nguồn vốn phân bổ để thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển vùng luồng thâm canh của tỉnh còn hạn chế, thấp so với khối lượng, kế hoạch đề ra. Trong khi đó, diện tích rừng luồng thâm canh phục tráng trên địa bàn xã có địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, đất đai cằn cỗi. Diện tích rừng luồng được chăm sóc, bón phân chỉ dừng lại ở những diện tích được Nhà nước hỗ trợ, người dân chưa chủ động bỏ kinh phí và nhân công để thâm canh luồng. Việc bố trí ngân sách địa phương đối với xã biên giới Tam Lư để hỗ trợ người dân mở rộng diện tích luồng, vầu thâm canh gặp nhiều khó khăn...











