Xã hội hóa hỗ trợ, không trao quyền lực công
Điều 9 dự thảo Luật Phát triển đô thị (bản trình Quốc hội ngày 7-8) quy định về việc xã hội hóa hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính. Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân đủ năng lực vào những phần việc kỹ thuật, hỗ trợ có thể giúp giảm áp lực cho cơ quan hành chính, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Phân định rõ những việc xã hội hóa
Dự thảo xác định việc xã hội hóa không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, không chuyển giao thẩm quyền quản lý nhà nước cho tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước. Đây là nguyên tắc quan trọng để phân định những phần việc có thể huy động xã hội tham gia.

Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Bến Thành, TPHCM. Ảnh: KHẢ HÂN
Từ nguyên tắc của dự thảo, có thể nghiên cứu xã hội hóa một số khâu: hướng dẫn người dân, doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ; hỗ trợ kê khai; số hóa tài liệu, nhập dữ liệu; kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ về hình thức của hồ sơ; cung cấp nền tảng hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến; tra cứu thông tin; chuyển phát hồ sơ, kết quả...
Một số hoạt động đo đạc, kiểm định, giám định, khảo sát kỹ thuật cũng có thể được xem xét trong phạm vi pháp luật chuyên ngành cho phép. Những lĩnh vực có số lượng hồ sơ lớn như đất đai, xây dựng, đăng ký doanh nghiệp, đầu tư, môi trường, thuế, bảo hiểm xã hội… có thể lựa chọn thực hiện để đánh giá hiệu quả trước khi áp dụng rộng hơn. Việc này giúp giảm những khâu hành chính lặp lại, hồ sơ được chuẩn bị đầy đủ hơn ngay từ đầu; còn công chức tập trung vào những công việc đòi hỏi đánh giá, thẩm định và quyết định.
Điểm nên tiếp tục làm rõ là nội hàm của “hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ”. Điều 9 đã quy định việc xã hội hóa không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhưng xác định cụ thể đâu là công việc hỗ trợ sẽ hạn chế cách hiểu khác nhau khi triển khai. Có thể xác định theo hướng những phần việc được xã hội hóa không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý của người dân, doanh nghiệp.
Xã hội hóa hoạt động hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính nhằm bổ sung năng lực phục vụ và tạo thêm lựa chọn cho người dân, doanh nghiệp, không hình thành một tầng trung gian bắt buộc, “một cửa” phải qua.
Người dân vẫn được quyền nộp hồ sơ trực tiếp hoặc trực tuyến với cơ quan nhà nước và được giải quyết theo cùng trình tự, thời hạn, không phụ thuộc việc có sử dụng dịch vụ hỗ trợ hay không.
Quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ cũng nên được công khai để tránh tình trạng người dân có tâm lý muốn hồ sơ được giải quyết nhanh thì phải qua đơn vị trung gian; đồng thời có thể thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh đối với hành vi gợi ý, ép buộc sử dụng dịch vụ hoặc tạo ưu tiên không hợp lý.
Chẳng hạn, đơn vị ngoài nhà nước có thể kiểm tra hồ sơ đã đủ thành phần theo danh mục hay chưa, nhưng việc xem xét hồ sơ có đáp ứng điều kiện pháp lý để được chấp thuận, cấp phép hay không vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền. Những công việc như chấp thuận hoặc từ chối hồ sơ; cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép; xác lập chính thức quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức, cá nhân vẫn gắn với quyền lực nhà nước. Việc phân định cụ thể cũng giúp tránh tình trạng một đơn vị vừa hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ, vừa có khả năng tác động đến khâu thẩm định, quyết định.
Giữ chặt “van an toàn” về dữ liệu
Điều 9 đặt ra nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và có kiểm soát. Từ đó, việc lựa chọn hoặc công nhận tổ chức tham gia có thể dựa trên những tiêu chí cụ thể về tư cách pháp nhân, năng lực chuyên môn, nhân sự, hạ tầng công nghệ, khả năng bảo mật dữ liệu, lịch sử tuân thủ pháp luật và chất lượng phục vụ.
Thông tin về điều kiện tham gia, tiêu chí đánh giá, kết quả lựa chọn và tình trạng hoạt động của các đơn vị có thể được công khai trên một đầu mối để người dân dễ tra cứu, qua đó hạn chế nguy cơ độc quyền, lợi ích nhóm và quan hệ “sân sau”. Việc kiểm soát cũng không nên dừng lại ở khâu lựa chọn. Có thể đánh giá định kỳ các đơn vị tham gia thông qua tỷ lệ hồ sơ được chuẩn bị đầy đủ ngay từ đầu, thời gian hỗ trợ, mức độ hài lòng, số phản ánh và vi phạm. Kết quả này vừa giúp cơ quan quản lý có cơ sở kiểm tra, chấn chỉnh, vừa cung cấp thêm thông tin để người dân, doanh nghiệp lựa chọn đơn vị phù hợp.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng là an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu. Khi tổ chức ngoài nhà nước tham gia số hóa, nhập dữ liệu hoặc hỗ trợ hồ sơ, quyền tiếp cận dữ liệu có thể được giới hạn theo đúng phần việc được giao; quá trình truy cập, khai thác dữ liệu được ghi nhận và kiểm soát. Quy định triển khai cũng có thể xác định rõ việc lưu trữ, hoàn trả hoặc hủy dữ liệu sau khi kết thúc nhiệm vụ; kiểm soát việc sử dụng dữ liệu hành chính cho quảng cáo, môi giới, kinh doanh hoặc hình thành kho dữ liệu riêng ngoài phạm vi được giao.
Những hệ thống kết nối với cơ quan nhà nước cũng nên được kiểm tra an toàn thông tin định kỳ, kèm cơ chế cảnh báo và xử lý khi xảy ra rò rỉ hoặc sử dụng dữ liệu sai mục đích.
Xã hội hóa không đồng nghĩa với chuyển trách nhiệm giải quyết thủ tục sang đơn vị cung ứng dịch vụ. Cơ quan nhà nước vẫn chịu trách nhiệm đối với quyết định thuộc thẩm quyền; tổ chức tham gia chịu trách nhiệm về chất lượng, tính chính xác, an toàn và tính hợp pháp của phần việc mình thực hiện. Phân định rõ trách nhiệm ngay trong từng khâu sẽ giúp tránh tình trạng khi xảy ra sai sót, người dân phải đi tìm nơi chịu trách nhiệm.
Không tạo thêm một tầng chi phí bắt buộc
Điều 9 dự thảo Luật Phát triển đô thị giao HĐND thành phố quy định khung giá dịch vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính, cùng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù và những nguồn lực bảo đảm thực hiện cơ chế xã hội hóa. Khung giá này sẽ là công cụ kiểm soát, hạn chế tình trạng mỗi đơn vị áp một mức khác nhau hoặc lợi dụng vị trí trung gian để đẩy giá dịch vụ lên cao.
Xã hội hóa có thể bổ sung nhân lực, công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ, nhưng nếu người dân phải trả thêm tiền cho những phần việc vốn thuộc trách nhiệm cung ứng của cơ quan nhà nước thì lợi ích của cơ chế mới sẽ giảm đi đáng kể. Vì vậy, có thể làm rõ nguyên tắc: người dân vẫn được trực tiếp hoặc trực tuyến thực hiện thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước mà không bị buộc sử dụng một dịch vụ trung gian có thu giá.
Với những dịch vụ phát sinh theo nhu cầu riêng (như hỗ trợ kê khai tại nhà, chuyển phát nhanh, số hóa hồ sơ theo yêu cầu hoặc hỗ trợ chuyên sâu), việc thu giá gắn với sự lựa chọn tự nguyện của người sử dụng.
Điều đáng lưu ý là tránh tình trạng về nguyên tắc, người dân vẫn có thể tự làm thủ tục, nhưng trên thực tế muốn hồ sơ được hướng dẫn đầy đủ, xử lý thuận lợi thì người dân lại phải tìm đến một đơn vị trung gian và trả thêm tiền. Nếu thế, xã hội hóa rất dễ biến thành một tầng chi phí mới, hình thành tâm lý “muốn nhanh thì phải trả thêm”, thậm chí xuất hiện thêm một “cửa” trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Cùng với khung giá, từng loại dịch vụ, nội dung công việc, mức thu và đơn vị cung cấp nên được công khai để người dân có cơ sở lựa chọn. Dịch vụ càng rõ ràng, minh bạch thì càng hạn chế những khoản thu “mờ ảo”. Cách chi trả cũng có thể được phân định theo từng loại công việc, tránh nhập nhằng giữa dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ có thu giá.
Có dịch vụ do người sử dụng tự nguyện lựa chọn và chi trả; có phần việc Nhà nước đặt hàng hoặc hỗ trợ vì góp phần giảm tải cho bộ máy, nâng hiệu quả giải quyết thủ tục chung.
Với người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn hoặc những nhóm gặp trở ngại trong tiếp cận dịch vụ số, chính sách hỗ trợ cũng có thể được tính đến để việc xã hội hóa không làm gia tăng khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ công.
Điều người dân quan tâm khi xã hội hóa vẫn là hồ sơ được giải quyết nhanh hơn, ít phải bổ sung, giảm số lần đi lại và tổng chi phí bỏ ra thấp hơn. Xã hội hóa nếu đạt được những kết quả đó sẽ góp phần nâng chất lượng phục vụ, thay vì chuyển thêm một phần gánh nặng sang người dân, doanh nghiệp.
MẠNH HÒA
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/xa-hoi-hoa-ho-tro-khong-trao-quyen-luc-cong-post866448.html











