Xăng E10: Nguồn cung ổn định nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào ethanol nhập khẩu

Sau một tháng triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 trên toàn quốc, nguồn cung xăng cơ bản được bảo đảm, không xảy ra gián đoạn. Tuy nhiên, năng lực sản xuất ethanol nhiên liệu (E100) trong nước mới đáp ứng một phần nhu cầu, vẫn phải phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu, tiềm ẩn rủi ro về giá cả và nguồn cung.

Tổ công tác triển khai Thông tư 50/2025/TT-BCT ngày 7/11/2025 của Bộ Công Thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam (Thông tư 50) vừa có báo cáo gửi Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân về tình hình triển khai lộ trình pha chế, phối trộn và sử dụng xăng sinh học E10 tính đến ngày 1/7/2026.

Tổ công tác đánh giá, việc chuyển đổi diễn ra cơ bản thuận lợi, nguồn cung được bảo đảm và thị trường vận hành ổn định. Tuy nhiên, một trong những vấn đề đáng chú ý là nguồn ethanol nhiên liệu (E100) phục vụ pha chế vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, trong khi năng lực sản xuất trong nước còn nhiều hạn chế.

Nguồn cung xăng E10 được bảo đảm

Theo báo cáo, hiện cả nước có 4 nhà máy sản xuất ethanol đang hoạt động, trong đó chỉ có 3 nhà máy gồm Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai và Nhiên liệu sinh học Dung Quất sản xuất E100 phục vụ phối trộn xăng sinh học E5 và E10. Tổng công suất thiết kế đạt 23.300 tấn/tháng, song công suất vận hành thực tế chỉ khoảng 15.666 tấn/tháng, tương đương 67,2% công suất thiết kế.

Để bù đắp phần thiếu hụt, các doanh nghiệp đầu mối tiếp tục tăng nhập khẩu E100. Trong tháng 6/2026, tổng nguồn E100 đạt khoảng 121.895 m³, trong đó nhập khẩu 89.383 m³ và mua trong nước 32.512 m³. Sang tháng 7, tổng nguồn dự kiến đạt 103.700 m³, gồm 81.500 m³ nhập khẩu và 22.200 m³ mua trong nước.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, lượng E100 trong tháng 6 cao hơn nhu cầu phối trộn khoảng 22-33%, còn tháng 7 vẫn đáp ứng đủ nhu cầu dù biên dự phòng đã giảm đáng kể.

E100 nhập khẩu tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo, khoảng 73,3% tổng nguồn trong tháng 6 và tăng lên 78,6% trong tháng 7. Trong khi đó, nguồn trong nước chỉ chiếm từ 21-27%.

Về doanh nghiệp, Petrolimex là đơn vị có quy mô nguồn E100 lớn nhất với 62.000 m³ trong tháng 6 và 55.000 m³ trong tháng 7, tiếp theo là PVOIL với lần lượt 30.690 m³ và 18.200 m³. Các doanh nghiệp như Thanh Lễ, Hải Linh, Saigon Petro, Anh Phát và Xăng dầu Quân đội cũng tham gia bổ sung nguồn cung.

Đối với xăng nền, hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn vẫn vận hành ổn định, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng khoáng của thị trường trong nước. Phần còn lại được bảo đảm từ nguồn nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu mối.

Trong tháng 6/2026, tổng nguồn xăng khoáng trong nước và nhập khẩu đạt hơn 982.600 m³, đáp ứng đầy đủ nhu cầu pha chế xăng sinh học và tiêu thụ trên thị trường.

Khu vực chứa sản phẩm ethanol tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất và đường ống dẫn sản phẩm kết nối với Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Khu vực chứa sản phẩm ethanol tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất và đường ống dẫn sản phẩm kết nối với Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Hiện có 8 thương nhân đầu mối được cấp phép pha chế, phối trộn xăng E10 và 4 doanh nghiệp phối trộn xăng E5. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 29/2026/NQ-CP tháo gỡ vướng mắc về điều kiện đăng ký cơ sở pha chế, dự kiến sẽ có thêm khoảng 6 doanh nghiệp được cấp phép trong tháng 7, góp phần tăng năng lực cung ứng.

Theo thống kê, từ ngày 1-28/6, tổng lượng xăng sinh học tiêu thụ đạt khoảng 980 triệu lít. Trong đó, xăng E10 đạt khoảng 924 triệu lít, chiếm 94,29%, còn xăng E5 đạt khoảng 56 triệu lít, tương đương 5,71%.

Hiện toàn bộ hơn 17.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên cả nước đã chuyển sang kinh doanh xăng sinh học. Có 26 thương nhân đầu mối cung ứng xăng E10 và 11 thương nhân vẫn cung ứng xăng E5.

Thời gian đầu triển khai, nhiều người dân vẫn có nhu cầu tìm mua xăng E5. Để hỗ trợ tra cứu, Cục Thị trường trong nước đã đưa ứng dụng "Quanh tôi" vào hoạt động, cung cấp thông tin các cửa hàng bán xăng dầu trên toàn quốc, trong đó hiện có 1.585 cửa hàng bán xăng E5.

Phần lớn xe đời mới tương thích với xăng E10

Đến cuối tháng 6, Bộ Công Thương đã nhận được báo cáo của 2 hiệp hội và 16 doanh nghiệp, đại diện cho 24 thương hiệu ô tô và 5 thương hiệu xe máy.

Kết quả rà soát cho thấy các hãng xe có quy mô lớn như Toyota, Honda, Ford, Hyundai, Mitsubishi, Suzuki, Kia, Mazda, Peugeot, BMW, MINI, Skoda, Mercedes-Benz cùng các thương hiệu do THACO phân phối đều khẳng định phần lớn các dòng xe sản xuất từ khoảng giai đoạn 2000-2006 trở lại đây đã được thiết kế để sử dụng nhiên liệu có hàm lượng ethanol tới 10%.

Theo các doanh nghiệp, các phương tiện này không cần cải tạo kết cấu động cơ cũng như không phải thay đổi quy trình bảo dưỡng thông thường khi sử dụng xăng E10.

Đối với một số dòng xe đời cũ sử dụng bộ chế hòa khí hoặc hệ thống nhiên liệu đã xuống cấp, một số hãng như Mitsubishi và Mercedes-Benz khuyến cáo chỉ nên sử dụng xăng E5 hoặc cần kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống nhiên liệu trước khi chuyển sang E10. Tuy nhiên, đây chủ yếu là các phương tiện có tuổi đời từ 20-30 năm và số lượng lưu hành không lớn.

Với kết quả này, Tổ công tác đánh giá, cơ sở kỹ thuật để triển khai xăng E10 tại Việt Nam là tương đối vững chắc.

Dù vậy, Tổ công tác cũng chỉ ra nhiều thách thức cần tiếp tục xử lý. Trong đó, đáng chú ý nhất là năng lực sản xuất E100 trong nước còn hạn chế, khiến Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu, tiềm ẩn rủi ro về giá cả, tỷ giá, logistics và biến động của thị trường quốc tế.

Ba nhà máy sản xuất E100 hiện đều gặp những khó khăn riêng. Nhà máy Cồn Quảng Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu ngô nhập khẩu, thiết bị đã cũ và thiếu vốn đầu tư. Nhà máy Cồn Đồng Nai gặp khó do các doanh nghiệp xăng dầu chủ yếu ký hợp đồng ngắn hạn, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất. Trong khi đó, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất vẫn còn vướng mắc về hệ thống xử lý nước thải, áp lực tài chính, thiếu vùng nguyên liệu ổn định và phải cạnh tranh với ethanol nhập khẩu giá thấp.

Ngoài ra, đến thời điểm báo cáo vẫn còn 8 tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo triển khai, gồm Cao Bằng, Tuyên Quang, Lai Châu, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cà Mau. Một số địa phương miền núi vẫn phụ thuộc nguồn cung từ các tỉnh khác, làm gia tăng rủi ro về logistics, tồn kho và chi phí vận chuyển. Công tác kiểm nghiệm chất lượng, thống kê và báo cáo giữa các địa phương cũng chưa đồng đều.

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/xang-e10-nguon-cung-on-dinh-nhung-van-phu-thuoc-lon-vao-ethanol-nhap-khau/20260704030505784