Xăng E10 sau 1 tháng bán ra thị trường: Khẳng định lợi ích lớn cho chặng đường dài

Việc triển khai xăng sinh học E10 không chỉ mang lại lợi ích về môi trường và kinh tế trước mắt mà còn tạo động lực phát triển ngành nhiên liệu sinh học trong dài hạn. Đây sẽ là tiền đề để mở rộng vùng nguyên liệu, phát triển công nghệ ethanol thế hệ mới và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng xanh.

Lợi ích cho nhiều bên

Bộ Công Thương cho biết, từ ngày 1/6/2026 đến nay, việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học diễn ra đúng tiến độ. Nguồn cung ethanol nhiên liệu (E100), xăng nền và các loại xăng sinh học E5, E10 được các thương nhân kinh doanh xăng dầu bảo đảm đáp ứng nhu cầu thị trường. Hệ thống phân phối hoạt động ổn định, không xảy ra tình trạng gián đoạn hoặc thiếu hụt nguồn cung.

Cùng đó, việc công bố giá cơ sở đối với xăng E10RON95-III theo Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP của Chính phủ đã được triển khai từ kỳ điều hành giá ngày 18/6/2026, tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh và mở rộng cung ứng xăng E10.

Thống kê từ ngày 1-24/6 cho thấy, tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học (E5, E10) đạt khoảng 850 triệu lít. Trong đó, xăng E10 đạt khoảng 800 triệu lít, chiếm 94,12%, còn xăng E5 đạt khoảng 50 triệu lít, chiếm 5,88%.

Đánh giá sau một tháng xăng E10 chính thức được đưa ra thị trường, PGS, TS Ngô Thanh An - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP Hồ Chí Minh cho rằng, chủ trương "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế" của Đảng và Nhà nước đòi hỏi những giải pháp vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường. Xăng sinh học E10 đang cho thấy tiềm năng đáp ứng đồng thời hai mục tiêu này.

Theo phân tích của chuyên gia, về mặt khoa học, E10 chứa 10% ethanol sinh học - hợp chất có khả năng bổ sung oxy cho quá trình cháy, giúp nhiên liệu đốt cháy hiệu quả hơn và giảm phát thải các chất ô nhiễm. Theo đó, E10 có thể giảm phát thải khí CO, giảm lượng hydrocarbon chưa cháy hết và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi.

PGS, TS Ngô Thanh An - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP Hồ Chí Minh.

PGS, TS Ngô Thanh An - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, việc sử dụng nguyên liệu sinh học còn góp phần giảm phát thải CO₂ theo vòng đời sản phẩm do cây trồng hấp thụ khí carbon trong quá trình sinh trưởng. Quá trình cháy sạch hơn cũng giúp giảm muội than, cặn bám trong buồng đốt, góp phần bảo vệ động cơ.

PGS, TS Ngô Thanh An cũng cho rằng, việc chuyển sang sử dụng E10 không chỉ là thay đổi loại nhiên liệu mà còn là thay đổi nhận thức và hành vi tiêu dùng. Do đó, truyền thông khoa học minh bạch, dựa trên các kết quả kiểm chứng độc lập về hiệu suất và độ bền động cơ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin cho người dân.

Ở góc độ kinh tế, theo PGS.TS Ngô Thanh An, E10 mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Giá bán E10 thường thấp hơn xăng khoáng, trong khi mức tiêu hao nhiên liệu chỉ tăng nhẹ.

Đối với doanh nghiệp vận tải và logistics, nhiên liệu cháy sạch hơn có thể góp phần giảm chi phí bảo dưỡng trong dài hạn, đồng thời hỗ trợ đáp ứng các tiêu chí ESG ngày càng được thị trường quốc tế coi trọng.

Về lâu dài, phát triển E10 còn giúp gia tăng giá trị cho các ngành nông nghiệp, chế biến sâu và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng xanh trong nước.

Mở rộng dư địa phát triển ngành nhiên liệu sinh học

Theo PGS, TS Ngô Thanh An, lộ trình phát triển từ E10 lên E15, E20 trong tương lai sẽ tạo ra nhu cầu ethanol ngày càng lớn, mở ra thị trường ổn định cho các vùng nguyên liệu như sắn và mía. Điều này không chỉ góp phần nâng cao giá trị nông sản mà còn thúc đẩy đầu tư vào chế biến sâu, tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối.

Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý việc phát triển ethanol thế hệ thứ nhất từ cây trồng năng lượng cần được quy hoạch khoa học để tránh ảnh hưởng đến an ninh lương thực. Đây cũng là vấn đề đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm khi mở rộng quy mô sản xuất nhiên liệu sinh học.

Về dài hạn, hướng đi bền vững hơn là phát triển ethanol thế hệ thứ hai (2G) từ các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, trấu hay vỏ cà phê. Việt Nam có lợi thế lớn khi mỗi năm phát sinh khối lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn nguyên liệu này không cạnh tranh với sản xuất lương thực và có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính cao hơn.

Dù vậy, thách thức hiện nay là chi phí công nghệ còn cao, đặc biệt ở các công đoạn xử lý sinh khối, sử dụng enzyme và chuyển hóa thành ethanol. Điều này đòi hỏi phải tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

Để chuẩn bị cho giai đoạn sau năm 2030, PGS, TS Ngô Thanh An cho rằng Việt Nam cần tập trung vào ba trụ cột. Thứ nhất, làm chủ các công nghệ chuyển hóa sinh khối và sản xuất ethanol thế hệ mới. Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các trường đại học nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực liên ngành, bao gồm kỹ sư công nghệ sinh học, chuyên gia đánh giá vòng đời sản phẩm và chuyên gia quản lý tín chỉ carbon.

"Đây sẽ là những lực lượng quan trọng giúp ngành nhiên liệu sinh học phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng xanh toàn cầu", chuyên gia nhấn mạnh.

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/xang-e10-sau-1-thang-ban-ra-thi-truong-khang-dinh-loi-ich-lon-cho-chang-duong-dai/20260701113938400