Xây dựng hệ thống lý luận về đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Nhân Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (tháng 8/2026), Báo Thế giới và Việt Nam có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao về việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về đối ngoại trong kỷ nguyên mới.

Thưa đồng chí, trong phát biểu chỉ đạo quán triệt Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về đối ngoại. Xin đồng chí cho biết vì sao đây là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay?

Trong lịch sử dân tộc, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước lại đặt ra những yêu cầu mới cho công tác đối ngoại. Yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận đối ngoại phản ánh một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng.

Thực tiễn hơn 80 năm của nền đối ngoại Việt Nam cho thấy chúng ta đã tạo dựng được những nền tảng quan trọng để tiếp tục kế thừa và phát triển. Đặc biệt qua 40 năm đổi mới, chúng ta đã xây dựng một hệ thống quan điểm, tư tưởng chỉ đạo tương đối toàn diện, từ đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đến chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là tiếp tục hệ thống hóa, bổ sung và hoàn chỉnh nền lý luận ấy, làm sâu sắc thêm những khái niệm then chốt để nghiên cứu gắn chặt hơn với hoạch định chính sách.

Đây là một công việc không đơn giản. Thực tiễn đối ngoại đang phát triển rất nhanh, đặt ra nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận. Công tác tổng kết thực tiễn, chuẩn hóa hệ thống khái niệm và gắn kết nghiên cứu với hoạch định chính sách cũng cần tiếp tục được hoàn thiện. Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống lý luận không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là đòi hỏi trực tiếp từ thực tiễn. Đó là bước phát triển tất yếu khi nền đối ngoại Việt Nam đã đạt đến một trình độ mới và đang đảm đương những yêu cầu ngày càng cao.

Theo đồng chí, một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về đối ngoại cần bao gồm những thành tố nào?

Trước hết, cần thấy rằng hệ thống lý luận không phải là một tập hợp các quan điểm đúng xếp cạnh nhau, mà là một chỉnh thể gắn kết, gồm nhiều tầng, từ hệ giá trị và mục tiêu đến các nguyên tắc chỉ đạo, hệ khái niệm và phương pháp, và cuối cùng là hệ tiêu chí để đánh giá. Nói ngắn gọn, hệ thống lý luận phải trả lời được bốn câu hỏi cơ bản: theo đuổi mục tiêu gì, hành động theo nguyên tắc và phương châm nào, nhận thức đúng về mình và về thế giới như thế nào và đánh giá hiệu quả bằng tiêu chí nào.

Hệ thống lý luận về đối ngoại của Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối Đổi mới và đường lối đối ngoại của Đảng, mang đậm bản sắc Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa lý luận của thế giới. Tiếp đó là hệ nguyên tắc chỉ đạo đã được thực tiễn kiểm nghiệm, gồm: bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững độc lập, tự chủ; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên định hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại. Nhiệm vụ của công tác lý luận là làm rõ nội hàm và mối quan hệ giữa chúng để vận dụng nhất quán trong điều kiện mới.

Có ba yêu cầu then chốt để một nền lý luận thực sự vận hành được. Trước hết là sự rõ ràng của khái niệm; một khái niệm chỉ có giá trị khi có nội hàm rõ ràng và được phân biệt với các khái niệm liên quan. Tiếp đến là quan hệ giữa các khái niệm; phải phân biệt được đâu là mục tiêu, đâu là công cụ. Cuối cùng là sự gắn bó với thực tiễn, đúng như tinh thần của Nghị quyết là lấy kết quả cụ thể, thực chất làm thước đo.

Một hệ thống lý luận chỉ có giá trị khi giúp lý giải thực tiễn, đồng thời định hướng cho hoạch định và triển khai chính sách. Hệ thống đó chỉ thực sự hoàn chỉnh khi có tính nhất quán về logic, có khả năng được kiểm nghiệm và tiếp tục phát triển từ thực tiễn.

Từ thực tiễn, đâu là những vấn đề lý luận mà đồng chí cho là cấp thiết nhất cần đi sâu nghiên cứu?

Từ thực tiễn hiện nay, có thể thấy nổi lên một số nhóm vấn đề cần ưu tiên nghiên cứu.

Trước hết là vị trí của đất nước trong trật tự quốc tế hiện nay, sứ mệnh và chức năng mới của đối ngoại, trong bối cảnh Đảng ta xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, góp phần bảo vệ và phát triển đất nước.

Kế đó là cách nhận thức và lý giải cục diện thế giới. Hệ thống lý luận phải giúp nhận diện đúng các chuyển động lớn của thời đại, phân biệt xu thế với hiện tượng nhất thời, dự báo xu hướng và phục vụ hoạch định chính sách.

Một vấn đề then chốt là tự chủ chiến lược trong điều kiện các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu. Theo tôi, đây là một trong những thách thức lớn nhất. Một hướng nghiên cứu quan trọng là làm rõ mối quan hệ giữa mở rộng hợp tác quốc tế với củng cố nền tảng tự chủ chiến lược.

Những cặp quan hệ có tính phương pháp luận trong tư duy chiến lược đối ngoại cũng cần được làm rõ: giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa lợi ích quốc gia – dân tộc và trách nhiệm quốc tế; giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; giữa kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Xử lý đúng những cặp quan hệ này chính là nơi lý luận thể hiện giá trị thực tiễn.

Cần nghiên cứu cơ chế để đối ngoại phát huy vai trò kiến tạo phát triển, chuyển hóa những quan hệ chính trị tốt đẹp thành các chương trình hợp tác thực chất, cùng có lợi, nhất là trong các lĩnh vực mới.

Vị thế, sức mạnh mềm và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam cũng là một nhóm vấn đề lớn, gắn với quan điểm xuyên suốt là lấy người dân làm trung tâm. Khi tham gia ngày càng sâu vào công việc chung của thế giới, cần làm rõ nguyên tắc xác định mức độ và lĩnh vực đóng góp phù hợp với năng lực và lợi ích của đất nước.

Cuối cùng là cơ chế vận hành nền đối ngoại toàn diện, hiện đại. Lý luận cần làm rõ cơ chế phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân để tạo sức mạnh tổng hợp.

Để hiện thực hóa, theo đồng chí cần chuẩn bị những điều kiện gì về thiết chế và đội ngũ?

Trước hết, cần thống nhất nhận thức rằng đây là một quá trình lâu dài, không thể hoàn thành trong một giai đoạn hay bằng một vài công trình riêng lẻ. Lý luận phải hình thành từ thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm và trở lại dẫn dắt thực tiễn. Vì vậy, cần lấy tổng kết thực tiễn đối ngoại của đất nước làm nền tảng.

Cùng với đó, công việc cần được tổ chức bài bản, bởi lý luận không thể hình thành từ những nỗ lực cá nhân rời rạc. Việc hoàn thiện cơ chế nghiên cứu là điều kiện để chuẩn hóa khái niệm, gắn nghiên cứu với tham mưu chính sách và đào tạo cán bộ. Đây không phải là công việc của riêng ngành ngoại giao, mà cần sự tham gia của các cơ quan hoạch định chính sách, các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học và cộng đồng học thuật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Lý luận chính là một bộ phận của thực lực ấy, nên cũng cần được đầu tư bài bản.

Đảng ta đã đúc kết cán bộ là cái gốc của mọi công việc; hệ thống lý luận chỉ thực sự phát huy giá trị khi trở thành cách tư duy của đội ngũ. Cùng với đó, cần tạo điều kiện để đội ngũ nghiên cứu tăng cường trao đổi học thuật quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tri thức nhân loại trên cơ sở giữ vững lập trường, quan điểm của Đảng và lợi ích quốc gia – dân tộc. Bản lĩnh chính trị và trình độ lý luận phải đi cùng nhau.

Nhân Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, đồng chí kỳ vọng gì ở chặng đường phía trước của công tác này?

Một việc cần triển khai sớm là xác định cho đúng những câu hỏi cần nghiên cứu, rồi tạo cơ chế để chúng được nghiên cứu thấu đáo.

Trên cơ sở đó, cần từng bước nghiên cứu và xây dựng những sản phẩm cụ thể. Thực tiễn mấy năm gần đây cho thấy toàn ngành cần những sản phẩm có thể sử dụng ngay. Trước mắt có thể tổng kết các luận điểm lý luận rút ra từ thực tiễn đối ngoại thời kỳ đổi mới; xây dựng bộ khái niệm cốt lõi, khung đánh giá hiệu quả đối ngoại và hệ thống tình huống thực tiễn phục vụ nghiên cứu, phân tích và đào tạo.

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 là dịp để toàn ngành cùng định hướng cho chặng đường đó. Về lâu dài, việc xây dựng hệ thống lý luận sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận của Đảng về đối ngoại và thúc đẩy sự phát triển của khoa học đối ngoại Việt Nam. Xét đến cùng, xây dựng hệ thống lý luận không phải chỉ có thêm các công trình nghiên cứu, mà còn nâng cao năng lực tư duy chiến lược và năng lực hành động của nền đối ngoại nước ta. Hơn 80 năm qua, đổi mới luôn là mạch chảy xuyên suốt của đối ngoại Việt Nam, mở ra những bước phát triển mới trong từng giai đoạn lịch sử. Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống lý luận về đối ngoại là một bước đi tiếp theo trong mạch chảy ấy, để đối ngoại Việt Nam vững vàng đồng hành cùng dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Nguyễn Mạnh Cường

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/xay-dung-he-thong-ly-luan-ve-doi-ngoai-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-423605.html