Xây dựng hướng dẫn về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trên động vật thực nghiệm
Ngày 25/3, tại Hà Nội, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội tổ chức Hội thảo chuyên đề Xây dựng Hướng dẫn về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trên động vật thực nghiệm.
Đây là hoạt động quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật cho lĩnh vực nghiên cứu y sinh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa nền y sinh học Việt Nam hội nhập sâu rộng với các chuẩn mực quốc tế.

TS. Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo phát biểu.
Nghiên cứu tiền lâm sàng: 'Mảnh ghép' không thể thiếu
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, nhấn mạnh trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành y tế nhằm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TƯ, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn cho nghiên cứu tiền lâm sàng là nền tảng sống còn để đảm bảo an toàn trước khi áp dụng bất kỳ phương pháp điều trị, thuốc hay thiết bị y tế mới nào trên con người, đồng thời là giai đoạn quan trọng trong toàn bộ chu trình phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe "make in Vietnam".
Bên cạnh hệ thống pháp lý về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trên người đã cơ bản hoàn thiện, Việt Nam vẫn đang còn khoảng trống trong xây dựng 1 hệ thống hướng dẫn đồng bộ cho các nghiên cứu y sinh học trên đối tượng động vật thực nghiệm, gây khó khăn cho việc hội nhập theo chuẩn quốc tế, quản lý loại hình nghiên cứu này tại các cơ sở đồng thời là rào cản khi các nhà khoa học Việt Nam muốn công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín.

Đại diện Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo trình bày về hệ thống văn bản pháp luật quản lý nghiên cứu y sinh học trên con người.
Nguyên tắc 3R và chuẩn mực đạo đức hiện đại
Nội dung cốt lõi của dự thảo Hướng dẫn xoay quanh nguyên tắc 3R (Thay thế - Giảm thiểu - Cải tiến) và mở rộng thêm chữ R thứ tư là Trách nhiệm (Responsibility). Đây là những chuẩn mực quốc tế mà Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ đang áp dụng nghiêm ngặt,.
Hội thảo đã đi sâu thảo luận về các quy trình kỹ thuật và đạo đức cụ thể:
Phân loại mức độ can thiệp: Dự thảo chia các can thiệp trên động vật thành 4 mức độ: Không hồi tỉnh, Nhẹ, Trung bình và Nặng;
Hội đồng Đạo đức (IACUC/IECBREA): Các chuyên gia đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất cho Hội đồng đạo đức cấp cơ sở để thẩm định, giám sát và phê duyệt mọi đề cương nghiên cứu y sinh học có sử dụng động vật;
Kết thúc sự sống nhân đạo: Động vật thực nghiệm phải được đảm bảo kết thúc nhân đạo, giảm thiểu đau đớn, sợ hãi và phù hợp với mục đích nghiên cứu khi kết thúc thí nghiệm.

Chuyên gia trình bày tại hội thảo.
Thực tiễn từ các đơn vị tiên phong
Các báo cáo từ các cơ sở nghiên cứu hàng đầu như Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, Viện Dược liệu và Học viện Quân y đều cho thấy nỗ lực trong việc triển khai các nghiên cứu tiền lâm sàng theo chuẩn quốc tế, thành lập các Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu trên động vật thực nghiệm và chuẩn hóa quy trình xét duyệt hồ sơ.
Đặc biệt, mô hình của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ – trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á được xây dựng theo chuẩn Hoa Kỳ – đã cung cấp những bài học thực tiễn về việc vận hành các mô hình động vật lớn để thử nghiệm các kỹ thuật can thiệp đột quỵ và tim mạch phức tạp...

TS. Nguyễn Ngô Quang cùng các chuyên gia trao đổi, giải đáp nội dung đại biểu quan tâm tại hội thảo.
Thách thức và lộ trình hội nhập
Thông tin tại hội thảo cũng cho thấy, dù đạt được nhiều tiến bộ, ngành y tế vẫn đối mặt với những "nút thắt" về chi phí vận hành khổng lồ, thiếu hụt bác sĩ thú y chuyên ngành động vật thực nghiệm và rào cản trong nhập khẩu các dòng động vật biến đổi gen phục vụ nghiên cứu.
Kết thúc hội thảo, các chuyên gia khẳng định việc ban hành Hướng dẫn về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trên động vật thực nghiệm thời điểm này là hết sức cần thiết, không chỉ giúp bảo vệ phúc lợi động vật trong nghiên cứu y sinh học mà còn nâng cao tính tin cậy của khoa học nước nhà, thúc đẩy công bố và hội nhập quốc tế, góp phần vào thực hiện các mục tiêu chiến lược khoa học công nghê của ngành về tăng cường tính ứng dụng/thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, làm chủ công nghệ chiến lược y sinh.
Đây là nền tảng để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một trong các trung tâm y sinh và chăm sóc sức khỏe nhân dân hàng đầu khu vực.

Các đại biểu tham dự hội thảo.














