Xây dựng khung chỉ số về kinh tế số cho TPHCM
Nhu cầu có một bộ chỉ số kinh tế số (KTS) là hết sức quan trọng. Việt Nam đã có bộ chỉ số KTS quốc gia nhưng còn tổng quát, áp dụng chung, nên chưa đáp ứng yêu cầu của một đại đô thị như TPHCM.
Mô hình 6 trụ cột
Cách tiếp cận KTS truyền thống gồm ba lớp: lõi, nền tảng theo định dạng hẹp và nền kinh tế dựa vào số hóa; tuy rất thuận tiện tính toán các chỉ tiêu, chỉ số đóng góp của KTS, song không hỗ trợ nhiều cho việc xây dựng định hướng lập kế hoạch hay ưu tiên đầu tư.
Nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình mới gồm 6 trụ cột để xác định rõ hiện trạng, thành phần KTS, nhận diện điểm mạnh - yếu và nhu cầu đầu tư theo từng trụ cột.
Trụ cột 1 thu thập, số hóa dữ liệu từ thế giới thực và trên không gian số - được xem như “trái tim”, “nhiên liệu” của kinh tế. Nghị quyết 57-NQ/TW cũng chỉ rõ, dữ liệu là trụ cột quan trọng nhất để phát triển KTS. Dữ liệu này đến từ hoạt động trong thế giới thực (qua hệ thống cảm biến, camera, đo đạc) và từ các nền tảng số (thương mại điện tử, mạng xã hội).
Để đáp ứng yêu cầu quy mô và chất lượng dữ liệu, TPHCM cần xây dựng hệ thống cảm biến và Internet of Things phủ rộng toàn đô thị, cùng hệ thống thu thập, quản lý và chuẩn hóa dữ liệu.
Thành phố hiện triển khai Đề án đô thị thông minh, xây dựng kho dữ liệu dùng chung và hệ sinh thái dữ liệu mở. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn còn phân tán, thiếu khung pháp lý đầy đủ trong bảo vệ và quản trị dữ liệu, hạn chế về năng lực vận hành.
Vì vậy, về chính sách, hai yêu cầu quan trọng nhất ở trụ cột này là bảo vệ dữ liệu cá nhân và đảm bảo an ninh mạng để tạo dựng “niềm tin số” – nơi người dân, doanh nghiệp (DN) sẵn sàng chia sẻ, cung cấp dữ liệu. Ngoài ra, cần thiết lập các quy chế chia sẻ, để bảo đảm dữ liệu được dùng chung một cách an toàn và hiệu quả.
Trụ cột 2 là hạ tầng mạng kết nối thiết bị và trung tâm dữ liệu - “huyết mạch” của KTS. Hạ tầng này không chỉ gồm mạng 5G, 6G hay các tuyến kết nối quốc tế, mà quan trọng hơn là mạng kết nối nội bộ từ trung tâm thành phố đến các khu sản xuất và từng hộ dân, bảo đảm truyền dẫn liên tục và ổn định. Điều này đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, cần sự phối hợp ở tầm quốc gia và sự tham gia của các DN viễn thông lớn.
Trụ cột 3 là hạ tầng tính toán và trung tâm dữ liệu (data center) - “động cơ” và “nhà kho” của nền KTS. Hạ tầng then chốt này bảo đảm khả năng lưu trữ, xử lý, tính toán dữ liệu cho toàn bộ nền KTS, đòi hỏi đầu tư rất lớn và nguồn năng lượng ổn định. Singapore nổi bật với khoảng 70 data center cũng phải điều chỉnh chiến lược vì gặp hạn chế về nguồn điện, chuyển sang giải pháp năng lượng xanh.
TPHCM tuy có hệ sinh thái năng lượng đang phát triển năng động, song vẫn gặp thách thức lớn như giá đất cao, nguồn điện chưa thực sự ổn định cho vận hành data center quy mô lớn, thiếu đội ngũ chuyên gia...
Trụ cột 4 là nền tảng chung cho ứng dụng số, gồm công cụ lập trình cơ bản, nền tảng cộng tác và sẻ chia, nền tảng phát triển nhanh cùng nguồn lực đầu tư khổng lồ (quỹ đất, vốn), nhân lực trình độ cao và các kinh nghiệm quốc tế có thể ứng dụng.
Để trụ cột này phát triển mạnh và bền vững, điều kiện tiên quyết là một đội ngũ nhân lực chất lượng cao cùng một cộng đồng phát triển phần mềm đủ lớn. Các trung tâm công nghệ hàng đầu như Silicon Valley (Mỹ) hay Bangalore (Ấn Độ) đều hình thành và phát triển từ chính những cộng đồng công nghệ quy mô lớn như vậy.
Trụ cột 5 là mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) - bộ não và bộ máy ra quyết định của KTS. Việc đầu tư xây dựng các mô hình AI lớn gặp nhiều hạn chế nhưng chúng ta có thể chọn chiến lược khả thi hơn, giống hướng đi của Nhật Bản, tập trung phát triển AI ứng dụng cho robot, tự động hóa và các hoạt động sản xuất trong công nghiệp - những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu và lợi thế của nền kinh tế.
Trụ cột 6 là các ứng dụng KTS, bao gồm dịch vụ đặt xe, chia sẻ chỗ ở, thương mại điện tử hay các nền tảng kết nối giữa DN, DN với người dùng và giữa người dân với chính quyền. Singapore là thí dụ tiêu biểu với chương trình Smart Nation đưa công nghệ số vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống.
Tận dụng lợi thế, bổ sung cơ hội
Với lợi thế, nhu cầu và quy mô, TPHCM có thể tập trung phát triển mạnh trụ cột 1. Thành phố hiện sở hữu kho dữ liệu rất lớn từ thực tiễn đời sống và hệ thống hành chính công. Việc phát triển, chia sẻ và quản lý an toàn bộ dữ liệu này tạo lợi thế nền tảng cho KTS, vừa bảo đảm yếu tố bảo vệ dữ liệu của Nhà nước, vừa mở ra cơ hội để DN khai thác phục vụ đổi mới sáng tạo.
TPHCM cũng có lợi thế về nguồn nhân lực với hệ thống đại học quy mô lớn. Tuy nhiên, lực lượng nhân sự hiện còn hạn chế ở năng lực vận hành hạ tầng số và khả năng sáng tạo, tư duy thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Đây là thách thức nhưng cũng là dư địa để thành phố xây dựng các chương trình đào tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao.
Đối với trụ cột ứng dụng, TPHCM càng có nhiều lợi thế rõ rệt. Thị trường rộng, nhu cầu phong phú và sức mua lớn tạo điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các sản phẩm, dịch vụ số mới. Nếu có chính sách phù hợp, DN công nghệ hoàn toàn có thể dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nhiều lĩnh vực.
Trong xây dựng khung KTS phù hợp, điều quan trọng nhất là bộ chỉ số phải vận hành theo thời gian thực, khi đó mới có thể xác định điểm mạnh - yếu để sớm có giải pháp và điều hành hiệu quả.
Nguồn SGĐT: https://dttc.sggp.org.vn/xay-dung-khung-chi-so-ve-kinh-te-so-cho-tphcm-post130983.html













