Xây dựng năng lực logistics quốc gia, tạo động lực tăng trưởng mới

Theo TS. MAI XUÂN THIỆU, Viện trưởng Viện Quản trị Logistics toàn cầu, chuyển từ tư duy phát triển dịch vụ logistics sang xây dựng năng lực logistics quốc gia theo yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là thay đổi có ý nghĩa chiến lược. Để hiện thực hóa định hướng này, cần có cơ chế điều phối thống nhất, chiến lược dài hạn và chương trình phát triển doanh nghiệp logistics Việt Nam đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Chuyển đổi tư duy mang ý nghĩa chiến lược

- Tại cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về định hướng phát triển logistics quốc gia và hạ tầng logistics mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy phát triển dịch vụ logistics sang xây dựng năng lực logistics quốc gia; điều này có ý nghĩa như thế nào với phát triển logistics Việt Nam, thưa ông?

- Đây là thay đổi có ý nghĩa chiến lược, chuyển từ cách tiếp cận logistics như một ngành dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh sang coi logistics là ngành kinh tế tổng hợp, có năng lực cạnh tranh và đóng góp vào tăng trưởng quốc gia. Sự chuyển đổi này không đơn thuần là mở rộng quy mô ngành mà còn đòi hỏi tổ chức lại nền kinh tế, phân bổ nguồn lực, kết nối các vùng và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu của Việt Nam.

Điều này đặc biệt quan trọng khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Logistics không chỉ đóng góp vào GDP thông qua doanh thu dịch vụ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng cao năng suất và giá trị gia tăng của nhiều ngành kinh tế.

Tuy nhiên, năng lực logistics Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế, nhất là sự thiếu đồng bộ giữa hạ tầng giao thông, kho bãi, cảng biển, cảng hàng không và các phương thức vận tải. Nếu tiếp tục phát triển theo tư duy riêng lẻ của từng ngành, từng địa phương, tình trạng đầu tư phân tán, trùng lặp và thiếu kết nối sẽ khó được khắc phục. Vì vậy, chuyển sang xây dựng năng lực logistics quốc gia chính là yêu cầu đổi mới căn bản cách quy hoạch, đầu tư, tổ chức và quản trị hệ thống logistics.

- Từ yêu cầu chuyển sang xây dựng năng lực logistics quốc gia, việc rà soát, nâng tầm Chiến lược phát triển logistics Việt Nam cần được đặt ra theo hướng nào, thưa ông?

- Chiến lược phát triển logistics Việt Nam cần được nâng tầm theo hướng bao quát năng lực logistics của toàn bộ nền kinh tế, thay vì chỉ tập trung vào sự phát triển của ngành dịch vụ. Điều quan trọng là phải có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng và xác định rõ cơ chế tổ chức thực hiện.

Theo tôi, cần xác lập hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu định lượng đến năm 2030, 2035 và 2050, phản ánh thực chất hiệu quả logistics quốc gia. Trên cơ sở đó, tổ chức mạng lưới logistics theo mô hình đa trung tâm, đa phương thức, gắn với các vùng sản xuất, nguồn hàng, thị trường và hành lang kinh tế, bảo đảm sự kết nối đồng bộ trong phạm vi cả nước.

Một chiến lược có tầm nhìn quốc gia cũng đòi hỏi cơ chế chỉ đạo, điều phối thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để khắc phục tình trạng phân mảnh trong quy hoạch, đầu tư và khai thác hạ tầng, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Cùng với đó, chú trọng phát triển doanh nghiệp logistics Việt Nam có quy mô, năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu logistics quốc gia; chú trọng nguồn nhân lực, logistics xanh và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

Cần chương trình dài hạn phát triển doanh nghiệp logistics đầu tàu

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, phải có khát vọng và quyết tâm đưa Việt Nam trở thành một trung tâm logistics của khu vực và thế giới; đồng thời yêu cầu xây dựng mạng lưới logistics quốc gia thống nhất, gắn với tổ chức lại không gian kinh tế và kết nối quốc tế. Theo ông, cần cụ thể hóa định hướng này ra sao?

- Việt Nam có nhiều lợi thế để trở thành trung tâm logistics của khu vực và thế giới, từ vị trí địa kinh tế, đường bờ biển dài đến hệ thống cảng biển, cửa khẩu, khu công nghiệp và quy mô hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng lớn. Tuy nhiên, lợi thế không tự động chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh logistics. Yếu tố quyết định nằm ở khả năng tổ chức mạng lưới, kết nối hạ tầng, điều phối luồng hàng và phối hợp hiệu quả các phương thức vận tải.

Muốn vậy, cần tập trung tháo gỡ ba điểm nghẽn lớn. Về quy hoạch, hệ thống cảng biển, cảng cạn, kho bãi, khu công nghiệp và trung tâm phân phối còn thiếu tính liên kết, chưa hình thành mạng lưới logistics đồng bộ. Trong khi đó, hạ tầng vận tải đa phương thức chưa được kết nối hiệu quả. Kết nối đến cảng biển, cảng hàng không còn hạn chế; vận tải đường sắt và đường thủy nội địa chưa phát huy hết tiềm năng. Một số khu vực vẫn thiếu kho lạnh, kho bảo quản nông sản và hạ tầng logistics chuyên dụng.

Điểm nghẽn còn nằm ở khâu tổ chức vận hành, khi vận tải đường bộ vẫn giữ vai trò lớn, trong khi sự phối hợp giữa các phương thức vận tải chưa hiệu quả. Thủ tục hải quan, kiểm tra chuyên ngành thiếu liên thông cũng làm kéo dài thời gian, gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu xây dựng các doanh nghiệp logistics Việt Nam đủ mạnh, từng bước làm chủ những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng quốc tế. Ông có đề xuất gì để triển khai định hướng này?

- Trước hết, cần lựa chọn những doanh nghiệp có nền tảng hoạt động tốt, có thị trường, năng lực quản trị và khả năng mở rộng để hỗ trợ phát triển thành doanh nghiệp đầu tàu, có sức cạnh tranh ở quy mô khu vực và quốc tế. Đồng thời, khuyến khích liên kết, hợp tác, sáp nhập giữa các doanh nghiệp vận tải, kho bãi, giao nhận, công nghệ và phân phối nhằm hình thành chuỗi dịch vụ tích hợp; đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng và huy động vốn dài hạn. Việc phát triển doanh nghiệp đầu tàu cần gắn với xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp vệ tinh và các nhà cung cấp dịch vụ chuyên biệt.

Bên cạnh đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong quản lý kho, vận tải, điều phối hàng hóa và quản trị chuỗi cung ứng; phát triển nguồn nhân lực có năng lực về vận tải đa phương thức, thương mại quốc tế và công nghệ số.

Quan trọng hơn, phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ cung cấp dịch vụ đơn lẻ sang cung cấp dịch vụ logistics tích hợp, từng bước tham gia tổ chức và điều phối các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng. Muốn vậy, cần hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng mạng lưới quốc tế, liên kết với các tập đoàn logistics toàn cầu và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu; đồng thời phát triển thị trường trong nước, tạo nguồn hàng ổn định.

Cùng với nâng cao năng lực cạnh tranh về quy mô và chất lượng dịch vụ, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư logistics xanh, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động, đứt gãy chuỗi cung ứng.

- Để sớm đưa các định hướng chỉ đạo trên vào thực tiễn, theo ông, đâu là những việc cần ưu tiên trong năm 2027?

- Năm 2027 cần tạo chuyển biến bước đầu về thể chế, điều phối, kết nối hạ tầng và năng lực doanh nghiệp. Trọng tâm là cần sớm ban hành cơ chế chỉ đạo, điều phối logistics quốc gia; rà soát, nâng tầm Chiến lược phát triển logistics Việt Nam gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cùng với đó, ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, kết nối; triển khai chương trình phát triển doanh nghiệp logistics đầu tàu và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia hệ sinh thái. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng dữ liệu logistics quốc gia, cải cách thủ tục hành chính để giảm thời gian, chi phí logistics; chú trọng đào tạo nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn logistics.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/xay-dung-nang-luc-logistics-quoc-gia-tao-dong-luc-tang-truong-moi-10442385.html