Xây dựng nền tài chính quốc gia hiệu quả, minh bạch, bền vững

Tại phiên bế mạc kỳ họp diễn ra vào sáng nay (24/4), Quốc hội thông qua Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026-2030; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030.

Các đại biểu Quốc hội tham dự tại phiên bế mạc - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Các đại biểu Quốc hội tham dự tại phiên bế mạc - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là xây dựng nền tài chính quốc gia hiệu quả, minh bạch, bền vững. Thực hiện chính sách tài khóa chủ động, hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ động của ngân sách địa phương;

Tập trung nguồn lực thực hiện các đột phá chiến lược gắn với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội; triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính; duy trì an ninh, an toàn nền tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô.

Mục tiêu cụ thể được xác định là phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng; tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân đạt 18% GDP, tỷ trọng thu nội địa bình quân khoảng 87-88% tổng thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng thu ngân sách trung ương đến năm 2030 chiếm khoảng 53-54% tổng thu ngân sách nhà nước. Tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 khoảng 21,2 triệu tỷ đồng.

Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026-2030 khoảng 5% GDP, bao gồm bội chi ngân sách trung ương khoảng 4,4% GDP, bội chi ngân sách địa phương bình quân khoảng 0,6% GDP; xây dựng mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát triển. Bảo đảm an toàn nợ công với các chỉ tiêu trần và ngưỡng cảnh báo.

Tổng mức vay của Chính phủ giai đoạn 2026-2030 khoảng 6,497 triệu tỷ đồng; trong đó tổng mức vay của ngân sách trung ương khoảng 6,327 triệu tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ giai đoạn 2026-2030 khoảng 3,2 triệu tỷ đồng. Trường hợp tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá, lãi suất biến động mạnh, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án điều chỉnh nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ.

Tổng mức vay của chính quyền địa phương giai đoạn 2026-2030 khoảng 622 nghìn tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ của chính quyền địa phương khoảng 47 nghìn tỷ đồng.

Hạn mức bảo lãnh Chính phủ giai đoạn 2026-2030 là 68,4 nghìn tỷ đồng. Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh tăng hạn mức bảo lãnh để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho các chương trình tín dụng chính sách và các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia nhưng không làm vượt trần, ngưỡng các chỉ tiêu an toàn nợ công, Chính phủ quyết định bảo đảm hiệu quả và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Về nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, Nghị quyết nêu rõ: Hoàn thiện đồng bộ thể chế, đổi mới quản lý, điều hành, xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng cường cơ chế phối hợp nhịp nhàng, nhất quán, hiệu quả giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác; thực hiện đồng bộ, thống nhất kế hoạch tài chính, vay trả nợ công 05 năm và đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030;

Đồng thời, kiểm soát các cân đối lớn về tài chính, ngân sách; chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách ứng phó với các diễn biến kinh tế-xã hội tác động không thuận lợi trong và ngoài nước, tạo nền tảng, định hướng cho các cấp, các ngành phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng trong tổ chức thực hiện.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế, phí, lệ phí; có chính sách tạo nguồn thu và nuôi dưỡng nguồn thu; chủ động nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới, bảo đảm bao quát các nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế, nâng cao tính công khai, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế. Chú trọng các nguồn thu từ đất đai, tài nguyên, khoáng sản, thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số...

Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, tăng tính chủ động của ngân sách địa phương. Đối với chính sách đặc thù tài chính-ngân sách nhà nước của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu ngân sách nhà nước.

Không quy định phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước, để lại nguồn thu ngân sách trung ương khác với quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị, trừ trường hợp theo chủ trương của cấp có thẩm quyền.

Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ưu tiên sử dụng tài sản công, Quỹ Đầu tư phát triển, Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ để đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp để vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước, vừa không ảnh hưởng lớn tới nguồn thu của ngân sách nhà nước.

Chính phủ chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng cho thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.

Nghị quyết yêu cầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương các cấp theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết này.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Hải Liên

Nguồn Chính Phủ: https://baochinhphu.vn/xay-dung-nen-tai-chinh-quoc-gia-hieu-qua-minh-bach-ben-vung-102260424113850247.htm