Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên cương xứ Thanh
Biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa mùa này phủ một màu xanh ngút ngàn của rừng già, cũng là lúc những vườn táo mèo, đào, mận trĩu quả. Ít ai nghĩ rằng, cách đây chưa đầy một thập kỷ, nhiều khu vực ở vùng biên này vẫn còn là những khoảng đất bỏ hoang hoặc sản xuất kém hiệu quả, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào tập quán canh tác truyền thống, thu nhập bấp bênh, thiếu ổn định.
Đảng viên mở lối làm giàu dưới tán rừng
Trong câu chuyện về những mô hình kinh tế tiêu biểu ở xã vùng biên Nhi Sơn, nhiều người nhắc đến ông Thao Nọ Gia (SN 1964), ở bản Pù Ngùa như một người tiên phong dám nghĩ, dám làm.
Trên diện tích 5ha đất rừng nhận khoán, ông Gia xây dựng mô hình trồng táo mèo kết hợp cây sa nhân dưới tán rừng, đồng thời duy trì sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc. Hiện nay, đây được xem là một trong những mô hình phát triển kinh tế dưới tán rừng hiệu quả nhất ở khu vực biên giới.

Vườn táo mèo của gia đình ông Thao Nọ Gia đang sinh trưởng, phát triển tốt.
Ông Gia nhớ lại, năm 2018, khi nhận thấy cây táo mèo phù hợp với điều kiện tự nhiên địa phương, vừa tạo sinh kế cho người dân vừa góp phần bảo vệ rừng, ông mạnh dạn đăng ký nhận đất để phát triển mô hình. Thời điểm đó, cây táo mèo chủ yếu mọc tự nhiên trong những cánh rừng giáp huyện Viêng Xay của nước bạn Lào.
Nhiều lần vượt núi vào rừng tìm giống, ông mang về được 7 lạng hạt táo mèo. Trong số đó, ông giữ lại 4 lạng để tự nhân giống, phần còn lại gửi Đồn Biên phòng Pù Nhi hỗ trợ ươm cây.
Đầu năm 2019, gần 4.700 cây táo mèo được đưa lên đồi trồng. Sau nhiều năm chăm sóc, những cây táo mèo đầu tiên đã bắt đầu cho quả. Riêng năm 2025, diện tích 5ha của gia đình ông thu hoạch khoảng 5 tấn quả, mở ra hướng đi triển vọng cho phát triển kinh tế dưới tán rừng ở địa phương.
Điều đáng quý hơn cả là khi bắt tay thực hiện mô hình, ông Gia gần như phải đi ngược với sự hoài nghi của nhiều người trong bản. Bởi thời điểm đó, chưa ai nghĩ cây táo mèo có thể trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế.
“Người dân trong bản còn nghèo, nhiều người sợ làm rồi thất bại nên không dám làm. Mình là đảng viên, lại là người có uy tín trong bản thì phải có trách nhiệm làm trước để bà con nhìn thấy hiệu quả rồi làm theo”, ông Gia chia sẻ.
Năm 2021, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Đồn Biên phòng Pù Nhi, gia đình ông tiếp tục phát triển cây sa nhân dưới tán rừng. Không chỉ hỗ trợ giống, cán bộ biên phòng còn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc.


Bộ đội Biên Phòng Thanh Hóa đồng hành cùng người dân mở hướng thoát nghèo nơi biên giới.
Sau khoảng 4 năm, những cây sa nhân đầu tiên bắt đầu cho thu hoạch. Từ 100 cây giống ban đầu, gia đình ông thu được khoảng 6kg hạt. Nhận thấy hiệu quả tích cực, ông tiếp tục mở rộng diện tích lên khoảng 1ha.
Bên cạnh đó, gia đình vẫn duy trì 1ha lúa nước cùng đàn trâu, bò, dê và gia cầm để đa dạng nguồn thu nhập. Năm 2026, ông tiếp tục trồng thêm 400 cây táo mèo, nâng tổng diện tích lên khoảng 7ha.
Theo ông Gia, điều quan trọng nhất không phải là thu nhập trước mắt mà là tạo được niềm tin cho bà con. Khi mô hình chứng minh được hiệu quả, nhiều hộ dân đã chủ động tìm hiểu, học hỏi và mạnh dạn làm theo.
Bộ đội biên phòng cùng dân tìm hướng thoát nghèo
Không chỉ có mô hình táo mèo dưới tán rừng, nhiều mô hình phát triển kinh tế khác cũng đang mang lại những tín hiệu tích cực nhờ sự đồng hành của cán bộ biên phòng.
Gia đình anh Va Văn Cô ở bản Lốc Há là một ví dụ điển hình. Trước đây, trên diện tích khoảng 1ha, gia đình anh chủ yếu trồng lúa và ngô. Thu nhập bình quân chỉ khoảng 10 triệu đồng mỗi năm, nhiều vụ sản xuất không đủ bù chi phí.
Năm 2020, sau khi được cán bộ Đồn Biên phòng Pù Nhi hướng dẫn và định hướng sản xuất, anh quyết định chuyển đổi diện tích đất canh tác sang trồng đào và mận. Ban đầu, đây cũng là quyết định khiến nhiều người trong gia đình băn khoăn bởi phải mất vài năm cây mới cho thu hoạch. Tuy nhiên, với sự động viên và hỗ trợ kỹ thuật từ cán bộ biên phòng, anh mạnh dạn thực hiện.
“Cây mận, cây đào không tốn nhiều công chăm sóc. Sau vài năm cây bắt đầu cho quả. Bây giờ thu nhập cao hơn trồng lúa, ngô trước đây nên gia đình tiếp tục mở rộng diện tích”, anh Cô cho biết.

Vườn mận của gia đình anh Va Văn Cô đang sinh trưởng, phát triển và cho thu nhập tốt hơn nhiều loại cây trồng khác.
Không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn ban đầu, cán bộ biên phòng còn thường xuyên đến tận vườn kiểm tra, hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, giúp gia đình yên tâm sản xuất. Đến nay, diện tích 1ha đào và mận của gia đình anh mang lại nguồn thu khoảng 20 triệu đồng mỗi năm, cao gấp nhiều lần so với trước.
Từ những hộ tiên phong như gia đình anh Cô, mô hình trồng đào và mận đã được nhiều hộ dân trong khu vực học tập, nhân rộng. Từng bước, một vùng cây ăn quả phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng biên đang hình thành, tạo thêm sinh kế cho người dân.
Thiếu tá Hơ Văn Xá, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Pù Nhi cho hay, trước khi triển khai Chỉ thị 681 của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về phân công đảng viên phụ trách các hộ gia đình khu vực biên giới, đời sống của nhiều hộ dân khu vực biên giới còn rất khó khăn. Nhiều gia đình sống trong những căn nhà tạm bợ, sản xuất chủ yếu dựa vào tập quán canh tác truyền thống nên năng suất thấp, thu nhập bấp bênh.
Sau khi được phân công phụ trách các hộ gia đình, cán bộ, đảng viên của đơn vị thường xuyên xuống bản, đến từng nhà tìm hiểu hoàn cảnh, điều kiện sản xuất và nhu cầu thực tế của người dân. “Không phải hộ nào cũng áp dụng một mô hình giống nhau. Chúng tôi phải xuống tận nơi khảo sát điều kiện đất đai, lao động, khả năng sản xuất của từng gia đình rồi mới định hướng cây trồng, vật nuôi phù hợp”, Thiếu tá Hơ Văn Xá cho biết.
Cũng theo Thiếu tá Hơ Văn Xá, đơn vị lựa chọn một số hộ có điều kiện phù hợp để triển khai thí điểm các mô hình mới. Khi mô hình phát huy hiệu quả, người dân trong bản tự tìm đến tham quan, học hỏi và làm theo.
Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ biên giới
Song song với các mô hình trồng cây ăn quả và cây dược liệu dưới tán rừng, Đồn Biên phòng Pù Nhi còn triển khai nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế khác cho người dân. Năm 2024, đơn vị phối hợp với các nhà hảo tâm hỗ trợ khoảng 40.000 con gà lông màu cho các hộ dân ở hai xã Nhi Sơn và Pù Nhi. Từ số lượng giống ban đầu, nhiều hộ đã phát triển thành những đàn gia cầm mang lại nguồn thu ổn định.
Bên cạnh đó, mô hình nuôi lợn đen bản địa cũng được duy trì và mở rộng ở nhiều hộ gia đình. Ngoài việc hỗ trợ con giống, cán bộ biên phòng còn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng chống dịch bệnh và xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh.
Theo Thiếu tá Hơ Văn Xá, hỗ trợ con giống chỉ là bước đầu. Điều quan trọng là phải đồng hành với người dân trong suốt quá trình sản xuất. “Người dân được hỗ trợ con giống nhưng nếu không hướng dẫn cách chăm sóc thì rất khó thành công. Vì vậy cán bộ phụ trách hộ dân phải thường xuyên xuống kiểm tra, hướng dẫn và cùng tháo gỡ khó khăn với bà con”, Thiếu tá Hơ Văn Xá chia sẻ.


Để thực hiện hiệu quả Chỉ thị 681, đồn Biên phòng Pù Nhi đã phân công 22 đảng viên trực tiếp phụ trách 132 hộ gia đình, giúp các gia đình phát triển kinh tế, giữ vững an ninh biên giới.
Những việc làm tưởng chừng giản dị ấy lại tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức của người dân. Khi cuộc sống được cải thiện, người dân càng tin tưởng hơn vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và sự đồng hành của lực lượng Bộ đội biên phòng.
Trung tá Phùng Xuân Trường, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Pù Nhi cho biết, đơn vị hiện quản lý hơn 21km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào trên địa bàn các xã Nhi Sơn, Pù Nhi và Mường Lý. Để thực hiện hiệu quả Chỉ thị 681, đơn vị đã phân công 22 đảng viên trực tiếp phụ trách 132 hộ gia đình. Trong đó, cán bộ chỉ huy phụ trách từ một đến ba hộ, các đảng viên khác phụ trách từ năm đến bảy hộ.
Theo Trung tá Phùng Xuân Trường, việc phân công đảng viên phụ trách hộ dân không đơn thuần là một nhiệm vụ công tác mà còn là cầu nối quan trọng giữa lực lượng biên phòng với nhân dân. Thông qua quá trình thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc, cán bộ biên phòng nắm chắc tình hình đời sống, sản xuất, việc chấp hành pháp luật cũng như những tâm tư, nguyện vọng của từng hộ gia đình. Từ đó kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương có giải pháp hỗ trợ phù hợp. Từ quá trình bám bản, bám dân ấy, nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân đã được phát hiện, tháo gỡ kịp thời. Hàng loạt mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện địa phương được hình thành và nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Thực tiễn cho thấy, khi người dân no ấm hơn, hiểu biết pháp luật hơn và gắn bó hơn với quê hương, biên giới cũng trở nên vững chắc hơn. Đó chính là nền tảng để xây dựng thế trận lòng dân bền vững nơi biên cương xứ Thanh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.











