Xem xét cơ chế đặc thù cho khai thác than
Chính phủ đang xem xét ban hành một nghị quyết riêng cho phép rút gọn thủ tục điều chỉnh tăng công suất khai thác than, nhằm kịp thời bổ sung nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện và công nghiệp trong giai đoạn cao điểm.
“Xả” van công suất
Đề xuất do Bộ Nông nghiệp và môi trường trình lên trong bối cảnh an ninh năng lượng đối mặt nhiều rủi ro mới từ diễn biến địa chính trị toàn cầu. Nguy cơ gián đoạn các tuyến vận chuyển năng lượng chiến lược, đặc biệt tại Trung Đông, đang làm gia tăng bất định về nguồn cung, logistics và chi phí nhập khẩu nhiên liệu.
Ở trong nước, nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh cùng đà phục hồi và mở rộng sản xuất. Trong bối cảnh khả năng chủ động về nhiên liệu nhập khẩu còn nhiều rủi ro, than trong nước vẫn giữ vai trò nguồn năng lượng nền tảng, quyết định khả năng vận hành ổn định của hệ thống điện quốc gia.
Theo Bộ Nông nghiệp và môi trường, khung pháp lý về địa chất và khoáng sản hiện đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, khi phát sinh nhu cầu tăng công suất khai thác trong thời gian ngắn, doanh nghiệp vẫn phải đồng thời thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến đầu tư, môi trường và điều chỉnh giấy phép khai thác.

Cơn khát than tại nhiệt điện Na Dương đã khiến doanh nghiệp và địa phương rốt ráo xin nâng công suất mỏ than Na Dương từ 600 nghìn tấn lên 1,2 triệu tấn/năm từ hai năm trước. Ảnh: dienluctkv.vn
Quy trình này thường kéo dài, khiến năng lực khai thác sẵn có không được huy động kịp thời, ngay cả trong những trường hợp mức tăng công suất là hạn chế.
Đáng chú ý, các đề xuất điều chỉnh đều không làm thay đổi bản chất dự án: không mở rộng ranh giới mỏ, không tăng trữ lượng được cấp phép, không thay đổi công nghệ khai thác và không làm gia tăng đáng kể tác động môi trường. Điểm nghẽn, vì vậy, nằm ở thủ tục hành chính hơn là ở tài nguyên hay năng lực khai thác.
Đề xuất cơ chế đặc thù từ thực tế sản xuất
Một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng cơ chế đặc thù đến từ kiến nghị của Tập đoàn công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam (TKV).
Theo báo cáo gửi các bộ, TKV đã rà soát và xác định 4 mỏ than hầm lò đủ điều kiện tăng sản lượng vượt công suất ghi trong giấy phép, nhưng không quá 15%. Bốn dự án mỏ (Lộ Trí, Mông Dương, Khe Tam và Hà Lầm) có công suất theo giấy phép khai thác từ 1,5 đến 2,5 triệu tấn than nguyên khai/năm.
Theo TKV, các mỏ này đều có điều kiện địa chất ổn định, hạ tầng và thiết bị khai thác đồng bộ, hệ thống an toàn lao động và bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu. Việc cho phép tăng công suất sẽ giúp bổ sung nhanh nguồn than cho sản xuất điện trong giai đoạn 2026–2027, phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng về chủ động bảo đảm cung ứng năng lượng.
Đề xuất của TKV đặt ra trong bối cảnh thị trường điện đang chịu sức ép ngày càng lớn. Đến cuối năm 2025, tổng công suất đặt của hệ thống điện Việt Nam đạt khoảng 88.000MW, trong đó nhiệt điện than chiếm gần 28.000MW, tương đương hơn 30% công suất toàn hệ thống.
Dù năng lượng tái tạo tăng nhanh về công suất lắp đặt, khả năng phát điện thực tế vẫn phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết. Trong khi đó, nhiệt điện than tiếp tục đóng vai trò nguồn điện nền, bảo đảm công suất khả dụng và ổn định hệ thống, đặc biệt trong mùa khô và các thời điểm phụ tải cao.
Theo ước tính, sản lượng điện toàn hệ thống năm 2025 đạt trên 320 tỷ kWh, còn công suất phụ tải cực đại đã vượt mốc 54.000MW. Trong bối cảnh này, chỉ một sự thiếu hụt nhỏ về nguồn than cũng có thể tạo ra áp lực lớn đối với vận hành hệ thống điện quốc gia.
Từ thực tiễn đó, cơ quan soạn thảo cho rằng cần một cơ chế đặc thù để xử lý các tình huống cấp bách, thay vì áp dụng đầy đủ quy trình theo các nghị định hiện hành.
Theo dự thảo nghị quyết, việc tăng công suất chỉ áp dụng đối với các mỏ than đang khai thác hợp pháp, còn hiệu lực giấy phép, với mức tăng tối đa không quá 15% công suất được cấp phép. Hồ sơ điều chỉnh được xử lý theo trình tự rút gọn, kế thừa các kết quả thẩm định đã có về đầu tư, môi trường và kỹ thuật.
Đồng thời, doanh nghiệp không phải thực hiện lại các thủ tục hiện hành quy định tại Nghị định 193/2025 của Chính phủ như điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh chủ trương đầu tư, lập dự án điều chỉnh, điều chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường, cũng như không phải xin cấp giấy phép môi trường mới đối với phần công suất tăng thêm trong giới hạn cho phép.
Các yêu cầu về an toàn lao động, bảo vệ môi trường và nghĩa vụ tài chính vẫn được giữ nguyên. Nghị quyết được thiết kế có thời hạn, dự kiến áp dụng đến hết năm 2027, phục vụ mục tiêu điều hành trong giai đoạn thị trường năng lượng biến động mạnh.
Việc xây dựng một Nghị quyết riêng cho thấy cách tiếp cận linh hoạt hơn trong điều hành an ninh năng lượng: không nới lỏng quản lý tài nguyên, nhưng rút ngắn thủ tục để huy động nhanh năng lực đã có khi hệ thống chịu áp lực.
Nếu được triển khai chặt chẽ, cơ chế này được kỳ vọng sẽ giúp giảm độ trễ chính sách, bổ sung kịp thời nguồn than cho sản xuất điện, trong khi vẫn giữ vững các “hàng rào” về môi trường, an toàn và kỷ cương pháp luật.
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/xem-xet-co-che-dac-thu-cho-khai-thac-than-d45168.html












