Xuân Ngọ nói chuyện ngựa
Trong nhịp điệu mùa Xuân đang gõ cửa khắp núi đồi biên cương, hình ảnh con ngựa – loài vật gắn bó với bao thế hệ đồng bào các dân tộc nơi Lạng Sơn lại hiện lên sống động, vừa bình dị, vừa mang đậm giá trị biểu tượng văn hóa. Ngựa không chỉ là cơ nghiệp của người dân mà còn là âm thanh của lịch sử, của phong tục, của cả một kho tàng văn hóa truyền thống.

Các thầy then thực hiện múa chầu với chùm xóc nhạc (tượng trưng cho con ngựa) tại lễ then thăng sắc của thầy then Lã Viết Mạnh, phường Tam Thanh
Theo văn hóa phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, ngựa (ngọ) là một trong 12 con giáp, đứng thứ 7 sau con rắn (tỵ). Ngựa là biểu tượng đặc trưng cho sự trung thành, tận tụy, đồng thời thể hiện sự kiêu hãnh, tự do và thanh khiết. Ở một giá trị khác, ngựa còn mang hình ảnh về sự lan tỏa của ánh sáng, bình yên, no ấm.
Gắn liền với đời sống con người
Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ngựa luôn gắn với những bước ngoặt lớn của non sông. Khi đất nước còn mở mang bờ cõi, khi giang sơn đứng trước ngoại xâm, vó ngựa đã in dấu trên những nẻo đường thiên lý, từ biên cương xa xôi đến kinh thành trung tâm. Hình tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt vươn mình đánh giặc Ân đã trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước và sức mạnh quật khởi của dân tộc. Ngựa trong truyền thuyết không chỉ là phương tiện, mà là sự kết tinh của khát vọng độc lập, ý chí tự cường và niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh Nhân dân.
Tiêu biểu, thời Tiền Lê, nhờ sức mạnh của đội quân kỵ binh mà Lê Đại Hành đã đánh bại đội quân nhà Tống tại ải Chi Lăng. Nhờ kỵ binh phối hợp với thủy binh và bộ binh mà Lý Thường Kiệt đã đại phá ba châu là: Châu Khâm, Châu Liêm, và Châu Ung của nhà Tống (đời Vua Lý Nhân Tông, 1066-1127), rồi đánh tan quân Chiêm Thành, bắt Vua Chiêm. Trong thời kỳ chống quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn đã phối hợp giữa kỵ binh với bộ binh đã phá tan giặc Minh, xóa bỏ ách đô hộ của nhà Minh.

Người dân thôn Nà Thì, xã Thống Nhất chăm sóc đàn ngựa bạch
Ngoài ra, trong lịch sử trung đại Việt Nam, ngựa còn gắn liền với hành trình của các đoàn đi sứ của các sứ đoàn qua Lạng Sơn. Trong lịch sử, do quan hệ giữa các triều đại phong kiến Trung Hoa và Việt Nam mà có lệ đi sứ của các sứ đoàn Việt Nam sang phương Bắc. Các chuyến đi sứ phần lớn đều xuất phát từ Thăng Long (Hà Nội ngày nay) theo đường bộ qua cửa Nam Quan sang Quảng Tây, đi tiếp đến Yên Kinh, Trung Quốc. Trong hành trình ấy phương tiện đi lại chủ yếu là ngựa.
Trong đời sống thường ngày, ngựa đã trở thành hình tượng đẹp. Về vật chất, ngựa vừa là công cụ lao động tạo ra của cải vật chất vừa là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu thuốc quý. Trong Đông y các sản phẩm chế biến từ ngựa là vị thuốc bổ hữu ích trong việc hỗ trợ điều trị bệnh và bồi bổ cơ thể, cao ngựa bạch là sản phẩm quý được yêu thích. Cao ngựa có tác dụng rất tốt với chứng đau nhức xương khớp, giúp mạnh gân, cường cơ, phòng chống loãng xương, bồi bổ cơ thể, hỗ trợ trẻ em suy dinh dưỡng, phụ nữ sau khi sinh, người lao động nặng nhọc độc hại, người già kém ăn, mất ngủ.
Với cư dân miền núi Lạng Sơn, ngựa đóng vai trò quan trọng trong việc thồ hàng và phương tiện đi lại của đa số người dân vùng núi nơi địa hình hiểm trở và điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn. Ngựa thồ hàng, ngựa kéo xe, ngựa vượt suối băng đèo, lặng lẽ gánh vác bao nhọc nhằn mưu sinh. Bởi thế, ngựa cũng là mặt hàng được buôn bán thiết yếu tại chợ Kỳ Lừa xưa. Theo các tư liệu lịch sử ghi chép lại, chợ Kỳ Lừa nằm chạy dài giữa hai phố Chính Cai và Tây Cai, chợ có 6 phiên chính vào các ngày mùng 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch. Tại chợ được bày bán nhiều mặt hàng khá phong phú từ các xã ven đô, từ dưới xuôi đem lên và một phần bên kia biên giới mang sang. Vì là một chợ vùng cao nên vào các phiên chính đầu tháng (mùng 2 và mùng 7), chợ Kỳ Lừa còn bán cả trâu, ngựa.
Ngày nay, ngựa đã “giúp” người dân tại một số xã trong tỉnh nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững trên địa bàn. Đơn cử như tại xã Thống Nhất, theo thống kê, hiện toàn xã có trên 500 hộ dân phát triển chăn nuôi ngựa với tổng đàn hơn 1.500 con, chủ yếu là ngựa bạch.
Ông Ma Văn Đình, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất cho biết: Với người dân thôn Vinh Tiên cuộc sống khấm khá, có của ăn của để như hiện nay phần lớn là nhờ ngựa. Từ những ngày còn nhiều nhọc nhằn, con ngựa đã âm thầm cùng người dân vượt qua khó khó, trở thành chỗ dựa sinh kế bền bỉ. Giờ đây, trong thôn đã có nhiều gia đình gắn bó với nghề nuôi ngựa, những đàn ngựa bạch thong dong bên sườn núi như mang theo niềm tin về một cuộc sống đủ đầy hơn. Toàn thôn hiện có 80/192 hộ dân phát triển chăn nuôi ngựa với tổng đàn trên 250 con, chủ yếu là ngựa bạch.
Biểu tượng văn hóa mang tính thiêng
Trong xã hội hiện đại, ngựa dần ít xuất hiện trong đời sống thường nhật. Máy móc, phương tiện cơ giới đã thay thế vai trò vận chuyển của ngựa. Tuy nhiên, hình ảnh ngựa không vì thế mà phai nhạt. Ngược lại, nó chuyển hóa thành biểu tượng văn hóa, tinh thần, được nhắc nhớ trong nghệ thuật, lễ hội, mỹ thuật và đời sống tín ngưỡng.
Tiến sỹ Đinh Đức Tiến, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa Việt Nam phân tích: Hình tượng ngựa xuất hiện từ rất lâu đời trong văn hóa Việt Nam. Ngựa được coi như hiện thân của sự may mắn, hạnh phúc, năng lực và quyền thế, sự giàu sang phú quý, khả năng nhanh nhẹn, sự giàu sang, sáng tạo. Bên cạnh đó, hình ảnh ngựa còn là tượng trưng cho sự trung thành, sức sống mãnh liệt, táo bạo. Trong văn học dân gian xuất hiện rất nhiều truyền thuyết, ca dao, tục ngữ liên quan đến ngựa như “Thánh Gióng” có hình ảnh ngựa sắt, “ngựa quen đường cũ”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”... phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa con người và loài vật này.
Với những ý nghĩa văn hóa vốn có, ngựa đã trở thành hình tượng gắn liền với tín ngưỡng dân gian của đồng bào các dân tộc Lạng Sơn. Tại Lạng Sơn, ngựa chế tác bằng đá thường được đặt ngoài sân nơi đền thờ thánh hoặc hai bên phía gian chính điện thờ dùng làm công cụ di chuyển cho các vị thánh, đơn cử như tại đền Kỳ Cùng (phường Đông Kinh).
Ngoài ra, hình tượng ngựa còn xuất hiện trong văn hóa các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đơn cử như trong thực hành then của dân tộc Tày, Nùng Lạng Sơn, ngựa được coi là hình tượng quan trọng và rất phổ biến. Theo tiếng Tày, Nùng, ngựa có nghĩa là “mạ”.
Ông Hoàng Việt Bình, Phó Chủ tịch Hội Bảo tồn dân ca tỉnh, tác giả cuốn sách “Từ điển văn hóa then” cho biết: Trong then, “mạ” được hiểu là binh mã của nhà then, tượng trưng cho sức mạnh của quân then. Theo quan niệm dân gian, khi làm lễ lẩu then cấp sắc, tăng sắc, các ông then, bà then được cấp cho binh mã, tùy dòng mà có loại binh mã khác nhau. Hình tượng ngựa được nhắc nhiều trong các trường đoạn then như “mạ khang mạ lếch” (ngựa gang, ngựa sắt), “mạ kim mạ ngần” (ngựa bằng vàng bạc), “mạ lầm” (ngựa gió)... Tiêu biểu và phổ biến nhất là chùm xóc nhạc còn gọi là "mạ" (ngựa)– nhạc cụ hình tượng cho con ngựa, thường được sử dụng kèm theo đàn tính mỗi khi hát trong các cuộc then hay biểu diễn trên sân khấu.
Từ xưa đến nay, ngựa không chỉ là loài vật phục vụ con người mà còn là bạn đồng hành trong lịch sử sinh tồn, phát triển và sáng tạo văn hóa. Sự hiện diện bền bỉ của ngựa trong đời sống cho thấy giá trị của những gì mộc mạc, bền bỉ và gắn bó lâu dài – những giá trị vẫn còn nguyên ý nghĩa trong xã hội hiện đại hôm nay. Đón xuân Bính Ngọ 2026, mỗi người chúng ta hãy cùng chiêm nghiệm những câu chuyện, chiều sâu lịch sử văn hóa ẩn chứa trong hình tượng con ngựa để thêm trân quý các giá trị truyền thống.
Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/bdk-tet-am-xuan-binh-ngo-noi-chuyen-con-ngua-5071470.html












