Xuất khẩu dệt may sang Nhật giảm, điện tử tăng mạnh 3 quý đầu năm
3 quý đầu năm 2026, dệt may tiếp tục là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Nhật Bản, đứng sau là nhóm điện tử, gỗ, thủy sản.
Số liệu từ Cục Hải quan cho biết, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản đạt 5,1 tỷ USD trong tháng 9/2026, bao gồm 2,7 tỷ USD trị giá từ xuất khẩu, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 7,6% YoY.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam - Nhật Bản 3 quý đầu năm 2026 đạt 43,7 tỷ USD, trong đó trị giá xuất khẩu đạt 23,1 tỷ USD, tăng 17,9% YoY; nhập khẩu đạt 20,5 tỷ USD, tăng 12,6% YoY.
7 mặt hàng xuất khẩu trên một tỷ USD
Dệt may là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường này, với kim ngạch 3,19 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, trị giá xuất khẩu mặt hàng này giảm 4,9%. Nhật Bản hiện là thị trường xuất khẩu dệt may lớn thứ hai của Việt Nam, sau Mỹ (đạt 13,9 tỷ USD).
Trái ngược với đà giảm trên, trong nhóm hàng lớn nhất, phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 5,6% về kim ngạch, lên mức 2,5 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 2,39 tỷ USD, tăng 21% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện tăng tới 56,6% YoY, đạt 2 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng tăng 66,4% YoY, lên mức 1,96 tỷ USD.
Trong nhóm tỷ USD, Việt Nam còn thu về 1,67 tỷ USD từ xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Nhật Bản, tăng 6,6% YoY; thủy sản đạt 1,25 tỷ USD, tăng 1,5% YoY.
Tổng kim ngạch 7 mặt hàng trên đạt 15 tỷ USD, chiếm 65% tỷ trọng hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản.
Trong kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản tăng đột biến như hóa chất tăng tới 186% YoY, lên mức 790 triệu USD; đồ chơi, dụng cụ, thể thao, bộ phận tăng 91,9% YoY, đạt 739 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 88,5% YoY, đạt 296 triệu USD.
Sắt thép xuất khẩu sang Nhật Bản cũng tăng 90,8% YoY, đạt 90,1 triệu USD; than tăng 85,9% YoY, lên mức 62,3 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 49,3% YoY, đạt 93,8 triệu USD.
Ở nhóm nông sản, Việt Nam xuất khẩu cà phê sang Nhật Bản với kim ngạch 473 triệu USD, giảm 1,3% YoY; rau quả đạt 193 triệu USD, tăng 6,1% YoY; hạt điều với trị giá 65,1 triệu USD, giảm 0,4% YoY; hạt tiêu đạt 20,2 triệu USD, tăng 1% YoY.
Điện tử, sắt thép dẫn đầu nhóm hàng nhập khẩu
Về nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng Việt Nam nhập nhiều nhất từ Nhật Bản, với trị giá 7,6 tỷ USD, tăng 23,1% YoY. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đứng sau với trị giá 3,8 tỷ USD, tăng 6,3% YoY.
Sắt thép là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ ba với kim ngạch 971 triệu USD, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong Top 10 mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất, Việt Nam chi 734 triệu USD để nhập khẩu sản phẩm từ chất dẻo, tăng 7,8% YoY; phế liệu sắt thép giảm 12,7% YoY, đạt 720 triệu USD; vải đạt 539 triệu USD, tăng 0,7% YoY.
Sản phẩm hóa chất nhập khẩu tăng 11,3% YoY, lên mức 535 triệu USD; hóa chất tăng 34% YoY, đạt 516 triệu USD; kim loại thường khác đạt 488 triệu USD, tăng 39,2% YoY; linh kiện và phụ tùng ô tô đạt 484 triệu USD, tăng 0,1% YoY.
Tổng kim ngạch 10 mặt hàng trên đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 80% tỷ trọng hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ thị trường Nhật.
Trong kỳ, một số mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản tăng mạnh như sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 208% YoY, đạt 78,9 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 77,7% YoY, đạt 63,1 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 65,7% YoY, đạt 75,9 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu dây điện và dây cáp điện cũng tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 159 triệu USD; ô tô nguyên chiếc tăng 17% YoY, đạt 218 triệu USD; dược phẩm tăng 21,9% YoY, đạt 52,8 triệu USD.

