Xuất khẩu nông lâm thủy sản quý I/2026 đạt gần 16,7 tỷ USD
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản trong trong quý đầu năm 2026 đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, có sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm hàng. Một số ngành như rau quả, thủy sản, chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng mạnh, trong khi các mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, cao su lại chịu áp lực giảm giá.

Quang cảnh họp báo
Ngày 1/4/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường họp báo thường kỳ thông tin về kết quả của ngành trong tháng 3 và quý đầu năm. Thông tin của Bộ cho biết trong tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng mạnh 47,8% so với tháng trước, cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét theo chu kỳ sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu so với tháng 3/2025, con số này vẫn giảm nhẹ 1,5%, phản ánh những thách thức từ thị trường quốc tế. Lũy kế 3 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.
XUẤT KHẨU RAU QUẢ TĂNG TRƯỞNG ẤN TƯỢNG
Xuất khẩu trong cả quý 1 xét theo từng nhóm hàng, lĩnh vực nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với giá trị xuất khẩu đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, đạt 197,7 triệu USD, tăng tới 54,3%. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy ngành chăn nuôi đang dần cải thiện năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu tại họp báo.
Ngành thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng khá, với kim ngạch đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%. Trong khi đó, lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%, phản ánh những khó khăn của ngành gỗ trước sự suy giảm nhu cầu tại một số thị trường lớn. Các nhóm hàng đầu vào sản xuất và muối tuy có quy mô nhỏ nhưng lại tăng trưởng mạnh, lần lượt đạt 834,3 triệu USD (tăng 56,7%) và 3,3 triệu USD (tăng 31,7%)
Xét theo khu vực thị trường, châu Á vẫn là điểm đến lớn nhất của nông lâm thủy sản Việt Nam, chiếm 45,1% tổng thị phần. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu sang khu vực này tăng mạnh 15,3%, cho thấy nhu cầu tiêu thụ ổn định và lợi thế địa lý của Việt Nam. Các thị trường tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu, chiếm lần lượt 20,7% và 16,2% thị phần. Tuy nhiên, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,4%, trong khi châu Âu tăng nhẹ 4,8%. Hai khu vực có quy mô nhỏ hơn là châu Phi và châu Đại Dương ghi nhận những biến động đáng chú ý, với mức giảm sâu 29% tại châu Phi và tăng mạnh 20,1% tại châu Đại Dương.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm 2026. Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ở cấp độ thị trường cụ thể, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất của Việt Nam với thị phần 22,1%, tăng trưởng tới 37,6% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 18,3% thị phần nhưng giảm 5,2%, trong khi Nhật Bản chiếm 7,1% và tăng nhẹ 0,7%.
Rau quả là điểm sáng nổi bật trong quý I/2026, với tổng giá trị xuất khẩu đạt 1,54 tỷ USD, tăng tới 32,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong xuất khẩu rau quả, Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm 54% tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng này. Hai thị trường xuất khẩu rau quả lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với tỷ trọng giá trị xuất khẩu lần lượt là 8% và 4,3%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng rau quả 2 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 76,2%, thị trường Hoa Kỳ tăng 21,4%, thị trường Hàn Quốc tăng 4,1%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh nhất ở thị trường Campuchia với mức tăng 3,7 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Thái Lan với mức giảm 28,1%.
Mặt hàng hạt tiêu cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng với lượng xuất khẩu đạt 64,6 nghìn tấn và giá trị đạt 417,5 triệu USD, tăng lần lượt 36,8% và 28,8%. Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân vẫn giảm 5,9%, phản ánh áp lực cạnh tranh và nguồn cung trên thị trường.
GẠO, CÀ PHÊ, CAO SU SUY GIẢM DO GIÁ XUẤT KHẨU GIẢM
Một trong những điểm đáng chú ý là diễn biến trái chiều của các mặt hàng cà phê, gạo, cao su. Trong tháng 3/2026, xuất khẩu cà phê đạt 210 nghìn tấn, trị giá 956,2 triệu USD. Lũy kế 3 tháng đầu năm, khối lượng xuất khẩu đạt 577,3 nghìn tấn, tăng 12,6%, nhưng giá trị chỉ đạt 2,71 tỷ USD, giảm 6,4%.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh 16,9%, xuống còn 4.696,8 USD/tấn. Điều này cho thấy áp lực giảm giá trên thị trường thế giới vẫn lớn, dù nhu cầu tiêu thụ không giảm. Về thị trường, Đức, Italia và Tây Ban Nha là ba quốc gia nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam. Trong khi xuất khẩu sang Đức và Tây Ban Nha tăng, thì thị trường Italia lại giảm 11,5%. Đáng chú ý, Trung Quốc nổi lên là thị trường tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng gấp đôi.

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 3 tháng đầu năm 2026. Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tương tự cà phê, mặt hàng cao su cũng ghi nhận tình trạng giá giảm. Trong quý I/2026, xuất khẩu cao su đạt 411,2 nghìn tấn, trị giá 751,8 triệu USD, tăng 8% về lượng nhưng chỉ tăng 2,4% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân giảm 5,1%, xuống còn 1.828,3 USD/tấn. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất, chiếm tới 70% thị phần. Tuy nhiên, xuất khẩu sang thị trường này giảm 8,5%, trong khi các thị trường như Indonesia và Ấn Độ lại tăng mạnh.
Đối với gạo, Việt Nam xuất khẩu 2,3 triệu tấn trong 3 tháng đầu năm, trị giá 1,11 tỷ USD. Dù khối lượng tăng nhẹ 0,2%, giá trị lại giảm 7,8% do giá xuất khẩu bình quân giảm 8%, còn 480,1 USD/tấn. Philippines vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm hơn một nửa tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 2,5 lần, trong khi thị trường Ghana giảm sâu.
Xuất khẩu hạt điều trong quý I/2026 đạt 120,9 nghìn tấn, trị giá 823,5 triệu USD, giảm nhẹ cả về lượng và giá trị. Giá xuất khẩu bình quân cũng giảm 0,8%, cho thấy thị trường đang trong trạng thái ổn định nhưng chưa có nhiều đột phá.
THỦY SẢN TĂNG TRƯỞNG TÍCH CỰC, GỖ GẶP KHÓ
Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 900 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 28,5%, 13,6% và 12,2%.

Cơ cấu xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm phân theo nhóm sản phẩm. Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường Trung Quốc tăng 58,5%, thị trường Nhật Bản tăng 4,8%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 2,9%.
Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 3/2026 ước đạt 1,22 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 3 tháng đầu năm 2026 đạt 3,81 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2025. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 48,8%. Trung Quốc và Nhật Bản là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 15,1% và 13,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 2 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Hoa Kỳ giảm 3,1%, trong khi thị trường Trung Quốc tăng 48,5%, thị trường Nhật Bản tăng 7,9%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng mạnh nhất ở thị trường Hà Lan với mức tăng 2,5 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Hàn Quốc với mức giảm 20,3%.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/xuat-khau-nong-lam-thuy-san-quy-i2026-dat-gan-167-ty-usd.htm











