18 tháng thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW: Tăng tốc hiện thực hóa công nghệ chiến lược

Sau hơn 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế quản lý và xây dựng nền tảng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khi 'khung' chính sách cơ bản đã hình thành, trọng tâm hiện nay là đưa các cơ chế mới vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển và thương mại hóa công nghệ chiến lược, tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn vào ngày 26-6-2026.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn vào ngày 26-6-2026.

Tạo nền tảng để khoa học, công nghệ bứt phá

Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có những chuyển động rõ nét. Trong quá trình đó, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo nền tảng để các chủ trương của Đảng từng bước đi vào thực tiễn.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến nay hệ thống thể chế cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cơ bản được hoàn thiện. Trọng tâm là xây dựng, sửa đổi các luật nền tảng như: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển giao công nghệ và Luật Công nghệ cao, cùng hàng chục nghị định, quyết định hướng dẫn thi hành. Song song với đó, nhiều cơ chế mới về tài chính, đầu tư, quản lý hoạt động nghiên cứu cũng được thiết kế theo hướng tăng quyền tự chủ, giảm thủ tục hành chính và lấy hiệu quả đầu ra làm thước đo.

Một trong những dấu ấn nổi bật là đổi mới cơ chế tài trợ cho khoa học và công nghệ. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) được mở rộng chức năng, hỗ trợ xuyên suốt từ nghiên cứu cơ bản đến hoàn thiện công nghệ trước thương mại hóa. Các quy định đối với Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) và hệ thống quỹ đầu tư mạo hiểm cũng từng bước được hoàn thiện, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính đa dạng hơn cho hoạt động đổi mới sáng tạo.

Không chỉ đổi mới cơ chế, Bộ Khoa học và Công nghệ còn tham mưu chuyển mạnh cách tiếp cận trong quản lý khoa học. Nếu trước đây hoạt động nghiên cứu chủ yếu được tổ chức theo từng đề tài riêng lẻ, thì nay trọng tâm chuyển sang giải quyết những bài toán lớn của quốc gia thông qua phát triển công nghệ và sản phẩm chiến lược.

Trên cơ sở tham mưu của Bộ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược và giao 20 bài toán lớn của đất nước đến năm 2030 để tập trung nguồn lực giải quyết. Đây được xem là bước chuyển quan trọng nhằm gắn hoạt động nghiên cứu với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ đồng thời thúc đẩy đầu tư hạ tầng nghiên cứu với Đề án Trung tâm nghiên cứu thử nghiệm quốc gia, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất chip bán dẫn. Trong phát triển nguồn nhân lực, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc được triển khai với mức hỗ trợ lên tới 1 tỷ đồng mỗi năm; Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh vào năm 2030 và 50 nhóm vào năm 2035.

Đáng chú ý, lần đầu tiên nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học được đưa vào quy chế quản lý. Việc phân định rõ rủi ro khách quan với hành vi vi phạm cố ý được kỳ vọng sẽ tạo môi trường thuận lợi hơn để các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, có tính đột phá.

Những chính sách mới bước đầu tạo ra kết quả tích cực. Sau khi danh mục công nghệ chiến lược được ban hành, số đơn đăng ký sáng chế của các chủ thể Việt Nam trong lĩnh vực này tăng khoảng 29% so với giai đoạn trước, cho thấy các chính sách đang từng bước tạo động lực cho nghiên cứu và làm chủ công nghệ.

Có thể nói, sau 18 tháng triển khai Nghị quyết 57, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành giai đoạn quan trọng nhất là tạo dựng nền tảng thể chế, cơ chế cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng là tiền đề để trọng tâm triển khai trong thời gian tới chuyển từ hoàn thiện chính sách sang hiện thực hóa các công nghệ chiến lược.

AI Camera, robot tự hành, UAV có thể tạo đột phá trong phát triển công nghệ chiến lược năm 2026.

AI Camera, robot tự hành, UAV có thể tạo đột phá trong phát triển công nghệ chiến lược năm 2026.

Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa công nghệ chiến lược vào thực tiễn

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, điểm nghẽn lớn hiện nay không phải thiếu nguồn lực mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Dù tổng kinh phí dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 đạt hơn 103 nghìn tỷ đồng, nhưng đến cuối tháng 6/2026, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 25,9% dự toán.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc giải ngân chậm không chỉ do khâu tổ chức thực hiện mà còn xuất phát từ những vướng mắc về cơ chế tài chính. Dù hành lang pháp lý cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã từng bước được hoàn thiện, nhiều quy định về lập dự toán, đầu tư công và tổ chức thực hiện nhiệm vụ vẫn chưa theo kịp đặc thù của hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ. Vì vậy, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện cơ chế tài chính, trọng tâm là xây dựng Nghị quyết của Chính phủ nhằm tháo gỡ những khó khăn trong chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bộ cũng cho rằng tư duy quản lý vẫn còn thiên về kiểm soát rủi ro. Trong khi hoạt động nghiên cứu luôn chứa đựng tính mới và tính bất định, việc lấy tiêu chí “không để thất thoát” làm thước đo chủ yếu dễ dẫn đến tâm lý e ngại, sợ sai và hạn chế đổi mới.

Để tháo gỡ nút thắt này, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất sớm đưa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) vào vận hành. Theo đó, sandbox sẽ được triển khai trước hết đối với hoạt động đặt hàng, mua sắm sản phẩm công nghệ chiến lược và vận hành quỹ đầu tư mạo hiểm.

Hà Nội cho phép sandbox (thử nghiệm có kiểm soát) đối với đề xuất thử nghiệm “Hệ thống vận tải hành khách tự hành cấp độ 4” bao gồm các phương tiện: Xe bus mini, robotaxi và các loại xe chở hàng trong khu vực giao thông có kiểm soát của Công ty Cổ phần Phenikaa-X.

Hà Nội cho phép sandbox (thử nghiệm có kiểm soát) đối với đề xuất thử nghiệm “Hệ thống vận tải hành khách tự hành cấp độ 4” bao gồm các phương tiện: Xe bus mini, robotaxi và các loại xe chở hàng trong khu vực giao thông có kiểm soát của Công ty Cổ phần Phenikaa-X.

Điểm cốt lõi của cơ chế này là tạo không gian pháp lý đủ linh hoạt để thử nghiệm công nghệ, sản phẩm và mô hình quản lý mới. Những trường hợp thực hiện đúng quy định, công khai, minh bạch và không vụ lợi sẽ được xem xét miễn trừ trách nhiệm nếu phát sinh rủi ro khách quan trong quá trình thử nghiệm. Đồng thời, phương thức quản lý cũng sẽ chuyển mạnh từ tiền kiểm sang giám sát theo dữ liệu và kết quả đầu ra.

Song song với việc hoàn thiện cơ chế, Bộ Khoa học và Công nghệ đang đẩy nhanh triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Đến đầu tháng 7-2026, Bộ đã tiếp nhận 28 hồ sơ đề xuất của các bộ, ngành và đang khẩn trương tổ chức thẩm định để báo cáo Chính phủ. Qua rà soát bước đầu, một số nhóm công nghệ được đánh giá có khả năng tạo ra sản phẩm ngay trong năm 2026 như: Trí tuệ nhân tạo (AI) Camera, robot di động tự hành, thiết bị bay không người lái, nền tảng giáo dục thông minh, vaccine, sinh phẩm và công nghệ sinh học trong nông nghiệp.

Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia về công nghệ chiến lược; ban hành quy định về thẩm định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công nghệ chiến lược; đồng thời phối hợp triển khai cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu và hỗ trợ mua sắm lô sản phẩm đầu tiên.

Sau giai đoạn tập trung xây dựng thể chế, Bộ Khoa học và Công nghệ đang chuyển trọng tâm sang tổ chức thực thi, kết nối các nguồn lực và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thành công của giai đoạn tiếp theo sẽ được đo bằng số lượng công nghệ được làm chủ, sản phẩm được đưa ra thị trường và năng lực cạnh tranh mà khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại cho nền kinh tế.

Thu Hằng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/18-thang-thuc-hien-nghi-quyet-57-nq-tw-tang-toc-hien-thuc-hoa-cong-nghe-chien-luoc-1211019.html